Ngày 25/2, Tổng công ty Phát triển đô thị Kinh Bắc (KBC) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Kumho Industrial (Hàn Quốc) đã ký kết văn bản hợp tác xây dựng tòa nhà Kinh Bac Ha Noi tại 1A Láng Hạ, Hà Nội.
Đây là bước tiếp theo trong thỏa thuận hợp tác chiến lược đã được ký kết giữa hai bên trong khuôn khổ Diễn đàn kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc diễn ra tại Hà Nội vào tháng 10 năm ngoái.
Tòa nhà Kinh Bac Ha Noi Tower tại là dự án đầu tiên được triển khai trong năm 2010 của KBC, gồm 32 tầng với diện tích 70.000m2 sàn bao gồm khu trung tâm thương mại và văn phòng cao cấp cho thuê, tổng vốn đầu tư 100 triệu USD (bao gồm cả xây dựng, đất và trang thiết bị theo tiêu chuẩn 5 sao). Dự án dự kiến sẽ được khởi công vào tháng 3 năm 2010 và hoàn thành sau 32 tháng thi công. .
Ngoài dự án trên, KBC tiếp tục mở rộng phát triển sang lĩnh vực bất động sản tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Tp.HCM với những dự án như khu tổ hợp đa năng Kinh Bắc tại khu ngoại giao đoàn Hà Nội; khách sạn Lotus tại Mỹ Đình, Hà Nội...
Đối tác của KCB tại dự án này, Tập đoàn Kumho Asiana, là tập đoàn đa ngành lớn thứ 7 Hàn Quốc. Tập đoàn này vừa khánh thành tổ hợp Kumho và khách sạn Intercontinental tại trung tâm quận 1, Tp.HCM.
TP.Hồ Chí Minh đang xây dựng cơ chế phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình qua Trung tâm Tài chính Quốc tế, hướng tới hình thành chương trình huy động vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng trọng điểm...
Sau kế hoạch chuyển toàn bộ cổ phiếu niêm yết về Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HoSE), cơ quan quản lý tiếp tục tính toán phương án tổ chức lại cách vận hành thị trường với nhiều thay đổi như giao dịch xuyên trưa, nới biên độ dao động giá và rút ngắn thời gian thanh toán…
Quy mô thị trường trái phiếu xanh Việt Nam vẫn còn rất nhỏ so với quy mô tín dụng xanh, trong khi nhiều dự án chuyển đổi xanh cần nguồn vốn trung và dài hạn. Kinh nghiệm của Hàn Quốc, Singapore và Nhật Bản cho thấy Nhà nước có thể hỗ trợ những chi phí đang cản trở doanh nghiệp bước vào thị trường vốn xanh.
Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, có yêu cầu về nguồn lực cho tăng trưởng sẽ lớn hơn, dài hạn hơn và đa dạng hơn đáng kể so với trước. Khi mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026–2030 được đặt ở mức từ 10%/năm trở lên, cùng với yêu cầu tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân khoảng 40% GDP, câu hỏi đặt ra không còn đơn thuần là nền kinh tế cần thêm bao nhiêu vốn, mà là nguồn lực đó sẽ được huy động từ đâu, dẫn truyền qua kênh nào và phân bổ như thế nào để tạo ra hiệu quả tăng trưởng cao nhất?
Sau hơn một thập kỷ không phát hành trái phiếu Chính phủ trên thị trường vốn quốc tế, việc Việt Nam nghiên cứu khả năng phát hành trái phiếu Chính phủ bằng USD đang thu hút sự quan tâm của thị trường. Nếu phương án này được thông qua và triển khai, đợt phát hành mới không chỉ mở lại một kênh huy động vốn mà còn là cơ hội để Việt Nam tái thiết lập đường cong lợi suất chuẩn, mở rộng cơ sở nhà đầu tư quốc tế và tạo điểm tham chiếu cho các đợt phát hành trái phiếu tiếp theo trên thị trường quốc tế.
Việt Nam đã vươn lên thành một trong những “cường quốc xuất khẩu” trên thế giới. Tuy nhiên, đằng sau kim ngạch hàng trăm tỷ USD và những dòng hàng hóa đã đi khắp các thị trường, thương hiệu Việt vẫn đang đối mặt với bài toán định vị và nâng cao giá trị trên bản đồ toàn cầu.
Tăng trưởng nhanh sẽ kéo theo những thay đổi lớn. Nếu người dân không được lắng nghe, doanh nghiệp thiếu niềm tin và các nhóm chịu tác động không được hỗ trợ thích đáng, chi phí xã hội của quá trình cải cách sẽ tăng lên.