Với những dự án trị giá hàng chục tỷ USD, câu chuyện không còn dừng ở việc mua một hợp đồng bảo hiểm, mà là xây dựng cả một cấu trúc từ đánh giá rủi ro, bảo hiểm, đồng bảo hiểm, tái bảo hiểm đến giám định và bồi thường. Khi quy mô công trình ngày càng lớn, câu hỏi đặt ra là ngành bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam sẽ giữ lại được bao nhiêu năng lực trong chuỗi giá trị này?
Việt Nam đang bước vào một chu kỳ đầu tư hạ tầng có quy mô rất lớn với các siêu dự án như đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam dài 1.541 km với tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 67,34 tỷ USD; đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng; mạng lưới đường sắt đô thị tại Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh và hàng loạt dự án sân bay, cảng biển, năng lượng...
Với những công trình hạ tầng trọng điểm, bảo hiểm rủi ro thường được phân bổ qua nhiều lớp, từ bảo hiểm gốc, đồng bảo hiểm đến tái bảo hiểm.
Crossrail của London là một ví dụ. Dự án trị giá khoảng 14,8 tỷ bảng Anh này gồm hàng chục km đường hầm và nhiều nhà ga mới, sử dụng mô hình bảo hiểm do chủ đầu tư kiểm soát. Swiss Re Corporate Solutions giữ vai trò nhà bảo hiểm dẫn đầu; tổng cộng 28 doanh nghiệp bảo hiểm tham gia chương trình, trong đó 9 doanh nghiệp tham gia bảo hiểm thiệt hại vật chất theo đơn bảo hiểm xây dựng và 19 doanh nghiệp tham gia bảo hiểm trách nhiệm bên thứ ba. Cấu trúc này cho phép phân bổ rủi ro giữa nhiều nhà bảo hiểm, với các lớp bảo hiểm được thiết kế theo quy mô và mức độ rủi ro của dự án.
Dự án metro Taipei MRT cũng cho thấy giá trị của cấu trúc bảo hiểm do chủ đầu tư kiểm soát khi tổn thất thực sự xảy ra. Trong quá trình xây dựng mạng lưới ban đầu, một vụ sập đường gây thiệt hại khoảng 31 triệu USD và làm 168 căn nhà bị hư hại nghiêm trọng. Chương trình bảo hiểm đã giúp đơn giản hóa quy trình bồi thường và xử lý tổn thất, qua đó hỗ trợ công trình tiếp tục được triển khai.
Bài học từ các dự án này nằm ở cách tổ chức chương trình bảo hiểm: xác định rủi ro từ sớm, tính toán mức giữ lại phù hợp, thu xếp tái bảo hiểm, đồng thời chuẩn bị cơ chế giám định và bồi thường trước khi sự cố xảy ra.
Việt Nam cũng đã bắt đầu có những dữ liệu thực tế để nhìn vào bài toán này. Theo công bố tháng 5/2026, Tổng công ty Cổ phần Tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (VINARE) cho biết các dự án metro tại Việt Nam cũng phải đối mặt với những rủi ro về điều kiện địa chất, phối hợp giữa chủ đầu tư và các liên danh nhà thầu quốc tế, tiêu chuẩn thiết bị và an toàn lao động. VINARE ghi nhận các vấn đề về địa chất và thi công hầm tại Nhổn - Ga Hà Nội, cùng những vấn đề kỹ thuật và thiết bị trong quá trình vận hành tuyến Bến Thành - Suối Tiên. Đáng chú ý, VINARE cho biết tỷ lệ phí bảo hiểm xây dựng đối với các tuyến metro tại Việt Nam hiện dao động từ 4,5% đến 5,9%. Mức phí phụ thuộc vào điều kiện địa chất, phương pháp thi công, công nghệ, năng lực nhà thầu, mức khấu trừ, thời gian thi công và các điều khoản mở rộng hoặc giới hạn trách nhiệm.
Với những siêu dự án đường sắt kéo dài hàng trăm, thậm chí hàng nghìn km, bài toán bảo hiểm trở nên phức tạp hơn nhiều. Rủi ro phải được phân tầng qua bảo hiểm gốc, đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm, trong khi phạm vi bảo vệ trải rộng từ thiệt hại vật chất, chậm tiến độ đến rủi ro kỹ thuật, trách nhiệm với bên thứ ba và gián đoạn hoạt động.
Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam đã có quy mô đáng kể. Theo Bộ Tài chính, doanh thu phí phi nhân thọ năm 2025 đạt khoảng 88.054 tỷ đồng, tăng 10,95% so với năm trước. Tuy nhiên, quy mô doanh thu phí toàn thị trường không phải là thước đo trực tiếp cho khả năng hấp thụ một rủi ro hạ tầng rất lớn.
Dữ liệu về hoạt động môi giới cho thấy quy mô của lớp tái bảo hiểm trong thị trường Việt Nam đã tương đối rõ. Năm 2025, tổng phí bảo hiểm thu xếp qua môi giới đạt 21.166 tỷ đồng, trong đó phí tái bảo hiểm thu xếp đạt 9.261 tỷ đồng, tăng 7,6% so với năm trước. Như vậy, phí tái bảo hiểm chiếm khoảng 43,8% tổng phí bảo hiểm được thu xếp qua môi giới. Đây không phải là tỷ lệ giữ lại của toàn thị trường, nhưng cho thấy tái bảo hiểm đã là một cấu phần đáng kể trong hoạt động thu xếp rủi ro tại Việt Nam.
Theo ông Lê Hoài Nam, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Tái bảo hiểm Alpha, với các dự án hạ tầng quy mô từ hàng trăm triệu đến hàng tỷ USD, doanh nghiệp bảo hiểm trong nước không thể tự mình gánh toàn bộ rủi ro và tái bảo hiểm quốc tế trở thành một bộ phận quan trọng của chương trình. Theo ông Nam, khi đánh giá năng lực bảo hiểm của một dự án lớn, cần quan tâm “ai sẽ đứng sau chương trình tái bảo hiểm”. Điều này đặc biệt đáng chú ý với các dự án sử dụng vốn vay quốc tế, khi bảo hiểm gắn với yêu cầu bảo vệ tài sản, dòng tiền và khả năng trả nợ của dự án.
Đây cũng là lý do cần phân biệt giữa năng lực giữ lại và năng lực thu xếp rủi ro. Thị trường Việt Nam có thể giữ lại một phần rủi ro nhưng vẫn tạo ra giá trị lớn nếu doanh nghiệp bảo hiểm trong nước đảm nhiệm tốt các khâu thẩm định, định phí, môi giới, thu xếp tái bảo hiểm, giám định và bồi thường. Ngược lại, nếu phần lớn những khâu có hàm lượng kỹ thuật cao đều được thực hiện ở bên ngoài, khả năng tích lũy năng lực trong nước sẽ hạn chế hơn.
Về mặt pháp lý, Nghị định số 220/2026/NĐ-CP đưa yếu tố mức độ rủi ro vào việc xác định mức phí đối với bảo hiểm bắt buộc công trình trong thời gian xây dựng. Với các công trình có giá trị dưới 1.000 tỷ đồng thuộc các nhóm áp dụng biểu phí tại Phụ lục III, doanh nghiệp bảo hiểm được tăng hoặc giảm phí tối đa 25% trên cơ sở mức độ rủi ro và phải xây dựng quy trình, tiêu chí thẩm định tương ứng.
Đối với nhà máy điện hạt nhân và các công trình xây dựng chưa thuộc các nhóm quy định tại các điểm a, b, c Khoản 1 Điều 37, doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua có thể thỏa thuận quy tắc, điều khoản, mức phí và mức khấu trừ trên cơ sở doanh nghiệp hoặc tổ chức bảo hiểm nước ngoài đứng đầu nhận tái bảo hiểm xác nhận nhận tái bảo hiểm.
Ông Nguyễn Phong Cầm, Phó Tổng thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, cho rằng cơ chế mới có thể tạo động lực để cạnh tranh chuyển từ giảm phí sang chất lượng đánh giá rủi ro, năng lực quản trị và khả năng cung cấp giải pháp phù hợp. Nếu được vận hành đúng tinh thần này, Nghị định số 220 có thể góp phần đưa giá bảo hiểm phản ánh rõ hơn hồ sơ rủi ro của từng dự án, thay vì tạo áp lực cạnh tranh chủ yếu thông qua việc hạ phí.
Định phí theo rủi ro chỉ có ý nghĩa khi thị trường có đủ dữ liệu để định lượng rủi ro. Một doanh nghiệp bảo hiểm muốn đánh giá sát một dự án hạ tầng cần rất nhiều thông tin về địa chất, thiết kế, phương pháp thi công, năng lực nhà thầu, lịch sử tổn thất, điều kiện khí hậu, nguy cơ ngập lụt, sạt lở, sụt lún và phạm vi ảnh hưởng tới khu dân cư. Việt Nam vì vậy cần từng bước hình thành dữ liệu rủi ro thiên tai thống nhất, dữ liệu tổn thất lịch sử, dữ liệu về đặc điểm và chất lượng công trình cùng cơ chế chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan nhà nước và thị trường bảo hiểm.
Đối với những tuyến hạ tầng kéo dài, bài toán càng phức tạp. Một vài điểm khảo sát địa chất khó phản ánh đầy đủ điều kiện của cả tuyến. Khi thông tin đầu vào chưa đủ, doanh nghiệp bảo hiểm khó định lượng xác suất và mức độ tổn thất; nhà tái bảo hiểm cũng phải tính đến phần bất định khi quyết định nhận rủi ro. Vì vậy, thuật ngữ “insurance-ready” có thể được dùng để mô tả một dự án đã có đủ dữ liệu và thông tin kỹ thuật cần thiết để thị trường bảo hiểm đánh giá, định phí và thu xếp năng lực phù hợp.
Điều này làm thay đổi thời điểm mà bảo hiểm được đưa vào dự án. Nếu bảo hiểm chỉ được mua để đáp ứng yêu cầu pháp lý hoặc hoàn tất thủ tục tài chính, doanh nghiệp bảo hiểm thường xuất hiện ở cuối quá trình chuẩn bị. Khi đó, khả năng tác động vào thiết kế và biện pháp quản trị rủi ro đã khá hạn chế.
Ngược lại, nếu đánh giá bảo hiểm được đưa vào ngay từ giai đoạn chuẩn bị, các yếu tố như địa chất, phương pháp đào hầm, thiết kế chống ngập, phương án ứng phó sự cố, năng lực nhà thầu hay trách nhiệm giữa các bên có thể được xem xét từ góc độ khả năng bảo hiểm.
Việc các nhà tái bảo hiểm quốc tế tham gia bảo hiểm các siêu dự án hạ tầng là một phần bình thường của cơ chế phân tán rủi ro. Với Việt Nam, giá trị được tạo ra và tích lũy trong nước cần được nhìn rộng hơn số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm nội địa trực tiếp giữ lại. Đó còn là năng lực thẩm định kỹ thuật, mô hình hóa rủi ro, môi giới, thu xếp tái bảo hiểm, giám định, xử lý bồi thường và quản trị dữ liệu. Nếu những khâu này được thực hiện chủ yếu ở bên ngoài, Việt Nam vẫn có thể thu xếp bảo hiểm cho những dự án lớn, nhưng tốc độ tích lũy năng lực trong nước sẽ chậm hơn.
Ít nhất hai định hướng hành động cần được đặt ra ngay từ giai đoạn chuẩn bị các dự án hạ tầng lớn.
Thứ nhất, chương trình bảo hiểm cần được thiết kế đồng thời với cấu trúc tài chính và quản trị rủi ro của dự án, thay vì được xử lý như một thủ tục sau khi thiết kế và hợp đồng xây dựng đã hoàn tất. Đối với các dự án lớn, chủ đầu tư cần xác định sớm mức giữ lại phù hợp, cấu trúc đồng bảo hiểm, yêu cầu đối với nhà tái bảo hiểm và cơ chế xử lý tổn thất.
Thứ hai, cần xây dựng nền tảng dữ liệu rủi ro hạ tầng dùng chung, kết nối dữ liệu thiên tai, địa chất, tổn thất bảo hiểm và đặc điểm công trình. Đây là điều kiện để thị trường chuyển sang định phí dựa trên dữ liệu và mô hình hóa rủi ro.
Do đó, khi Việt Nam bước vào chu kỳ xây dựng những công trình lớn nhất trong lịch sử, chủ đầu tư và ngành bảo hiểm phi nhân thọ cần trả lời được bốn câu hỏi: Rủi ro được phân bổ như thế nào? Bao nhiêu năng lực bảo hiểm được giữ lại trong nước? Dữ liệu nào được tích lũy sau mỗi dự án? Ai thực sự đứng sau chương trình bảo hiểm khi tổn thất xảy ra?<
(*) Nam Sơn, Chuyên gia độc lập
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 41-2026 phát hành ngày 12/10/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-41-2026.html




Một khoản tiền nhàn rỗi, một kế hoạch mua nhà, những thói quen chi tiêu - ba mối quan tâm tưởng chừng không liên quan, nhưng với khách hàng đã trải nghiệm VIB Up của Ngân hàng Quốc Tế (VIB), cả ba đều được giải quyết trong cùng một hệ sinh thái hội viên với tổng giá trị nhận được có thể lên đến 380 triệu đồng.
Bộ Tài chính cho biết doanh nghiệp có thể chủ động phân loại tài sản cố định (TSCĐ) căn cứ vào đặc điểm hoạt động và nhu cầu quản lý, thay vì phải đáp ứng ngưỡng nguyên giá tối thiểu 30 triệu đồng như quy định hiện hành. Tuy nhiên, ngưỡng 100 triệu đồng vẫn được duy trì khi xác định tài sản cố định phục vụ mục đích tính thuế thu nhập doanh nghiệp…
Trong phiên sáng 16/10, giá vàng miếng SJC tại hầu hết các đơn vị kinh doanh tiếp tục giữ nguyên ở mức 140,3 triệu đồng/lượng chiều mua vào và 143,3 triệu đồng/lượng chiều bán ra so với phiên trước (15/10). Ngoại trừ giá mua tăng cục bộ tại một số doanh nghiệp...
Trong lần xuất hiện vào ngày 16/10, Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang (Fed) Kevin Warsh không đưa ra tín hiệu về việc liệu Fed có tăng lãi suất trong cuộc họp tháng 10 này hay không...
Các nhà đầu tư dự báo giá vàng sẽ thiết lập những mức cao kỷ lục mới trong vòng 24 tháng tới, trong bối cảnh dữ liệu cho thấy lượng vàng được các ngân hàng trung ương mua trong trong tháng 9 đã đạt mức cao nhất trong gần 2 năm qua...
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Các đối tượng lừa đảo trên không gian mạng sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi, mạo danh cán bộ cơ quan Bảo hiểm xã hội, công an hoặc cán bộ phường/xã để tiếp cận người dân, lợi dụng nhu cầu tra cứu thông tin, thực hiện thủ tục và giải quyết quyền lợi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế nhằm đánh cắp thông tin cá nhân, chiếm đoạt tài sản.