Nếu như thị trường chứng khoán Việt Nam lao dốc sau khi báo cáo mới đây của Merrill Lynch được công bố, thì có lẽ t
ập
đo
àn
này sẽ là người “dọn cỗ” cho những ai đầu cơ nhờ giá xuống.
>>
Xem thêm tin bài liên quan đến Merrill Lynch
Bởi thực ra, việc Merrill Lynch rút ra khỏi Việt Nam - trong trường hợp khuyến nghị của nhóm tác giả báo cáo này được chấp nhận - không nói lên nhiều về thị trường Việt Nam. Nó nói về chính Merrill Lynch nhiều hơn.
Nhìn vào bảng phân bổ tài sản đầu tư của Merrill Lynch ở châu Á, dễ dàng thấy là Merrill Lynch có thế mạnh đầu tư vào các thị trường đã khá phát triển, như bốn con hổ châu Á (Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore) và Úc, tổng cộng g
ần
70%. Trong khi đó, các thị trường mới nổi và nhỏ như các nước Đông Nam Á (Thái Lan, Indonesia, Philippines, Việt Nam) rõ ràng lại không phải là thế mạnh của Merrill Lynch (chỉ chiếm vỏn vẹn có 8,5%).
Phần vốn đầu tư còn lại của Merrill Lynch được phân bổ cho Trung Quốc (14%) và Nam Á (5%), chia đều cho Ấn Độ và Pakistan, mỗi nước 2,5%. Những thị trường khổng lồ này có quy mô r
ất
lớn, cơ hội đầu tư còn nhiều, do đó việc nhóm tác giả b
áo c
áo
nhấn mạnh phải đẩy mạnh đầu tư vào thị trường Ấn Độ v
à Trung Qu
ốc
là một điều dễ hiểu, xét từ giới hạn nguồn lực của Merrill Lynch.
Bây giờ, tôi sẽ đi sâu hơn phân tích quan điểm của báo cáo nêu trên, cũng như bối cảnh thực hiện báo cáo của nhóm tác giả. Tất nhiên, những gì được phân tích ở đây chỉ dựa trên nguồn tài liệu mà tôi đang có hiện nay mà thôi.
Báo cáo sớm nhất mà tôi có trong tay đề ngày 2/2/2006, tức là khá lâu rồi, do Spencer White và Stephane Corry, Willie Chan thực hiện (tất cả đều thuộc Merrill Lynch Hồng Kông). Vì tên tác giả không viết theo thứ tự ABC, ta có thể phỏng đoán Spencer là trưởng nhóm. Báo cáo này rất chi tiết, dài 52 trang. Tinh thần chung của báo cáo rất lạc quan, đại ý là thúc giục Merrill Lynch tiến vào Việt Nam càng sớm càng tốt.
Báo cáo thứ hai đề ngày 29/6/2006, vào thời điểm khi thị trường đang đi xuống (chắc nhiều người còn nhớ giai đoạn này, vì từ đây trở đi đến tầm tháng 8 là giai đoạn ôm vào cổ phiếu “ngon lành” nhất của năm 2006). Báo cáo này vẫn giữ nguyên đội hình tác giả. Mặc dù trước tình hình thị trường đang đi xuống, báo cáo vẫn rất lạc quan về thị trường, và tin rằng sẽ có sự mở rộng trong tương lai. Báo cáo này tập trung chủ yếu vào chủ đề chứng khoán v
à
ngân hàng.
Báo cáo thứ ba đề ngày 5/10/2006, nhưng thấy có phụ chú “đã hi
ệu ch
ỉnh
” (corrected). Trong nhóm tác giả lần này, cái tên Mark Mathews chỉ đứng sau Spencer, và Mark là người của Merrill Lynch Singapore chứ không phải Hồng Kông như các thành viên còn lại. Điều thú vị là khi đây chính là lúc thị trường đang phục hồi và sẽ tăng mạnh liên tục vài tháng nữa, thì tinh thần báo cáo này đã bắt đầu có những nhận định không tích cực về thị trường Việt Nam.
V
à t
rong báo cáo cuối cùng mà tôi có, tức là báo cáo gần đây nhất (5/7/2007), thì Spencer đã hoàn toàn biến mất và Mark giữ vị trí trưởng nhóm. Báo cáo này, như chúng ta đã biết, hoàn toàn bi quan với thị trường Việt Nam và khuyến nghị định hướng nguồn lực của Merrill Lynch vào Trung Quốc.
Như vậy, dù không biết gì nhi
ều
về nội tình của Merrill Lynch, qua nh
ững d
ữ ki
ện tr
ên,
chúng ta ph
ần n
ào
có thể cảm nhận rằng sự dịch chuyển về quan điểm của nhóm t
ác gi
ả b
áo c
áo
d
ư
ờng nh
ư song h
ành v
ới s
ự
thay đổi v
ề
nhân sự tư vấn
cho các vấn đề liên quan đến Việt Nam. Khuynh hướng quan điểm c
ủa nh
óm t
ác gi
ả
chuyển dịch theo hướng từ lạc quan sang bi quan, và đôi khi c
ó v
ẻ
không hề phụ thuộc vào tình hình thị trường.
Ở đây, chúng ta nhớ lại câu cách ngôn nổi tiếng của Goethe: “Thực tiễn đã là lý thuyết rồi”, mà các nhà kinh tế Áo rất hay trích dẫn.
Vậy là, các nhà đầu tư Việt Nam dường như đang bị tác động bởi những cuộc tranh chấp tư tưởng nào đó, trong một văn phòng nhỏ bé, cách xa họ hàng ngàn cây số. Sự mất tự chủ dễ dàng của họ, nếu có, tất nhiên sẽ mang lại những hậu quả mà ch
ính
họ phải gánh chịu.
Người đứng đầu Pyn Elite Fund từng kỳ vọng kết quả kinh doanh rất tích cực của các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam sẽ đưa giá cổ phiếu vào một xu hướng tăng rõ rệt. Tuy nhiên, tình hình thanh khoản đã khiến giá cổ phiếu vẫn duy trì ở trạng thái yếu.
Khi Việt Nam bước vào nhóm các thị trường mới nổi, câu hỏi quan trọng đối với doanh nghiệp không còn đơn thuần là "vốn hóa bao nhiêu", mà là "nhà đầu tư quốc tế thực sự có thể mua được bao nhiêu"...
Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp đang tăng trưởng mạnh, định giá của phần lớn danh mục vẫn ở mức thấp bất thường, trong khi Việt Nam tiếp tục phát triển thị trường vốn sâu rộng hơn để phục vụ giai đoạn tăng trưởng tiếp theo.
ETF hàng hóa tiếp tục xu hướng hút ròng tuần thứ 3 liên tiếp, đạt hơn 4,8 tỷ USD, tăng 198% so với tuần trước và là mức cao nhất từ cuối tháng 02/2026. Trong đó, quỹ ETF SPDR Gold Trust cũng hút ròng hơn 3,3 tỷ USD trong tuần qua.
Một nhà đầu tư thực sự không chỉ là người sở hữu tài khoản hay thường xuyên giao dịch. Nhà đầu tư cần tập trung vào các sản phẩm đầu tư dài hạn như quỹ, hiểu rõ mục tiêu đầu tư của mình, nắm được các lớp tài sản và cách phân bổ tài sản...
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2025. Theo chuyên gia, điều này phản ánh xu thế chung về sức chống chịu của doanh nghiệp đang dần cạn kiệt. Sự biến động của lạm phát, xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào tăng… đang bào mòn nguồn lực của doanh nghiệp, khả năng gánh rủi ro kéo dài ngày càng hạn chế.