Trong năm 2024, các quỹ cổ phiếu ghi nhận hiệu suất vượt trội với mức tăng trưởng bình quân 20% so với VN-Index tăng 12,1% nhờ lợi nhuận tích cực trong giai đoạn nửa đầu năm, theo dữ liệu thống kê bởi FiinTrade.
Tuy nhiên hiệu suất trung bình ở mức thấp hơn (10,3%) trong khung thời gian 5 năm và âm -0,8% trong giai đoạn 3 năm, chủ yếu do khoản lỗ lớn vào năm 2022. Điều này cho thấy sự thiếu ổn định của nhóm quỹ này trong dài hạn, nhưng mức hiệu suất trung bình 10,3% trong 5 năm là tương đối ổn.
Có 41/66 quỹ đầu tư cổ phiếu ghi nhận mức tăng trưởng vượt trội so với Vn-Index ( 12,1%) trong năm 2024 nhờ hiệu suất tích cực trong giai đoạn nửa đầu năm. Tuy nhiên, hiệu suất của đa số các quỹ kém đi rõ rệt trong nửa cuối năm 2024, khi thị trường ở trạng thái đi ngang với thanh khoản giảm sút và chịu áp lực bán ròng tiếp tục từ khối ngoài.
Quỹ Cổ phiếu Kinh tế Hiện đại VinaCapital (VMEEF) – quỹ mới được thành lập từ năm 2023 dẫn đầu với mức tăng trưởng 34% nhờ phân bổ tỷ trọng lớn vào các cổ phiếu Ngân hàng và Công nghệ (FPT, FOX). Tiếp đến là quỹ Tăng trưởng Dài hạn Việt Nam (VFMVSF) với mức tăng 29,7% - mức hiệu suất cao nhất của quỹ kể từ khi thành lập (2021) và xét cho khung thời gian 5 năm, quỹ này đạt hiệu suất khá cao với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm đạt 15,3%.
Quỹ Cổ phiếu Tiếp Cận Thị trường VinaCapital (VESAF) và quỹ Đầu tư Lợi thế Cạnh tranh Bền Vững SSI (SSI-SCA) duy trì mức tăng trưởng kép hàng năm ổn định ở cả khung thời gian ngắn và dài. Mức tăng trưởng của hai quỹ này trong năm qua lần lượt 22,1% và 33,5%. Một số quỹ khác có mức tăng trưởng gấp đôiVN-Index như Quỹ Tăng trưởng Dài hạn Việt Nam 29,7%; Quỹ CP Hàng đầu VCBF tăng 27%; Quỹ CP Tăng trưởng VCBF tăng 26,4%;Quỹ CP Triển vọng Bảo Việt tăng 25,1%...
Tuy không đạt mức tăng trưởng cao như nhóm quỹ Cổ phiếu, hiệu suất của nhóm quỹ Trái phiếu ổn định qua các năm.
Các quỹ đầu tư trái phiếu tiếp tục có hiệu suất ổn định trong năm 2024 với 19/23 quỹ trái phiếu có mức sinh lợi cao hơn lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng của Vietcombank (4,6%). Trong đó, quỹ TCBF tiếp tục đứng đầu với hiệu suất vượt trội so với mặt bằng chung ( 13,7%), nhưng vẫn thấp hơn so với hiệu suất năm 2023 ( 32,16%).
Đứng thứ hai là Quỹ Trái phiếu MB (MBBOND) với 8,3%. Ngược lại, quỹ Trái phiếu lợi tức cao HD (HDBond) là quỹ trái phiếu duy nhất có hiệu suất âm (-0,3%) với danh mục phân bổ 44,4% vào trái phiếu, 13,7% vào cổ phiếu và phần còn lại chủ yếu là chứng chỉ tiền gửi. Trong đó, trái phiếu của VietCredit và cổ phiếu thuộc Tập đoàn Vingroup chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục của HDBond.
Về dài hạn, hiệu suất nhóm quỹ đầu tư trái phiếu khá tích cực khi lợi nhuận đều tốt hơn lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 36 tháng (5,3%) và lãi suất tiết kiệm 60 tháng (6,8%) của Vietcombank.
Các quỹ cân bằng ghi nhận hiệu suất tăng trưởng cao trong năm 2024, trong đó, nhóm có quy mô NAV lớn (>100 tỷ đồng) có hiệu suất tốt hơn so với các quỹ NAV quy mô nhỏ. Dẫn đầu là quỹ Cân bằng Chiến lược VCBF với mức tăng trưởng đạt 20,2%. Quỹ này phân bổ 61,6% vào cổ phiếu và 23,1% vào trái phiếu, nắm giữ tỷ trọng lớn ở cổ phiếu FPT, TPDN của MEATLife (MML) và Coteccons (CTD).
Trong giai đoạn 5 năm, Quỹ Cân Bằng Chiến Lược VCBF tiếp tục duy trì hiệu suất khả quan với lãi suất kép trung bình hằng năm đạt 11%.
Về dòng vốn, tiền bị rút ròng năm thứ 2 liên tiếp. Trong năm 2024, các quỹ đầu tư vào cổ phiếu và trái phiếu Việt Nam ở trạng thái âm năm thứ 2 liên tiếp, với giá trị rút ròng khoảng 13,8 nghìn tỷ đồng, tăng so với mức rút ròng 10,5 nghìn tỷ đồng của năm 2023.
Xét theo loại hình quỹ, nhóm quỹ Thụ động ghi nhận rút ròng khoảng 30,6 nghìn tỷ đồng trong khi nhóm quỹ Chủ động vào ròng 23,6 nghìn tỷ đồng.
Xét theo chiến lược đầu tư, dòng tiền đảo chiều vào ròng mạnh ở các quỹ trái phiếu (gần 12,9 nghìn tỷ đồng), phần lớn thuộc về quỹ Đầu tư Trái phiếu Techcom (TCBF). Ngược lại, nhóm quỹ cổ phiếu ghi nhận rút ròng kỷ lục (-27,5 nghìn tỷ đồng), chủ yếu rút ròng ở nhóm quỹ thụ động ETF DCVFMVN DIAMOND và Fubon FTSE Vietnam ETF. Trong khi đó, nhóm quỹ cân bằng ghi nhận biến động không đáng kể về dòng tiền.
Với hiệu suất vượt trội trong năm 2024 nhờ danh mục nắm giữ có nhiều cổ phiếu Ngân hàng, hai quỹ mở là VFMVSF và VMEEF có dòng tiền vào tích cực. Cụ thể, quỹ VMEEF của VinaCapital ghi nhận dòng tiền vào ròng liên tục kể từ tháng 11/2023 (lũy kế đạt hơn 1,4 nghìn tỷ đồng). Trong khi đó, dòng tiền vào ròng đột biến ở quỹ VFMVSF trong các tháng mà quỹ này có hiệu suất âm.
Áp lực rút vốn ở nhóm quỹ quy mô lớn. Các quỹ có quy mô NAV lớn như VEIL, Fubon FTSE Vietnam ETF, và ETF DCVFMVN DIAMOND chịu áp lực rút vốn mạnh từ nhà đầu tư, đặc biệt trong các tháng đầu năm.
Trong năm 2024, xu hướng dòng vốn quay trở lại nhóm quỹ trái phiếu diễn ra trên diện rộng, ghi nhận ở 14/23 quỹ, nhưng tập trung phần lớn ở quỹ Đầu tư Trái phiếu Techcom (TCBF) của Techcombank và quỹ Trái phiếu Việt Nam (DCBF) do Dragon Capital quản lý.
Năm 2024 là năm nổi bật của các quỹ trái phiếu với dòng tiền ròng dương trở lại và hiệu suất ổn định (mặc dù một số quỹ khác vẫn chịu áp lực rút vốn nhẹ). Điều này phản ánh sự chuyển dịch ưu tiên của nhà đầu tư sang các sản phẩm an toàn và ít biến động.
VnEconomy giới thiệu nhận định và khuyến nghị đầu tư của một số công ty chứng khoán về diễn biến thị trường ngày 21/10/2026.
Kết thúc quý 3/2026, Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS) ghi nhận doanh thu hoạt động quý 3 đạt 1.002 tỷ đồng, tăng 23% so với cùng kỳ.
Thống kê lịch sử cho thấy lực cầu mạnh tại vùng tỷ lệ E/P (Earnings-to-Price) từ 8–9% trở lên đã giúp thị trường tạo đáy trong các năm 2016, 2020, 2022 và 2025.
Thanh khoản ba sàn khớp lệnh vẫn ở vùng 14.000 tỷ, trong đó nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục bán ròng 218,54 tỷ đồng. Tính riêng giao dịch khớp lệnh, khối ngoại bán ròng 148,4 tỷ đồng.
Một đợt chốt lời diện rộng ở nhóm cổ phiếu vừa và nhỏ đã xuất hiện hôm nay, nhưng dòng tiền đầu cơ vẫn hoạt động tốt, đỡ giá và kéo phục hồi về cuối. Cả trăm cổ phiếu đảo chiều tăng mạnh hơn 1%, trong đó chỉ vài mã blue-chips, cho thấy khả năng chấp nhận rủi ro vẫn còn.
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là một chiến lược dài hạn, đòi hỏi sự chuyển đổi đồng bộ từ tư duy phát triển, mô hình quản trị đến cách khai thác và sử dụng nguồn lực biển.