Câu hỏi này trở thành điểm nóng trong phiên trả lời chất vấn trước Quốc hội của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
Chỉ trong một thời gian ngắn đầu năm 2008, Ngân hàng Nhà nước triển khai loạt chính sách mới, theo hướng thắt chặt chính sách tiền tệ. Từ tháng 2 đến tháng 3, qua quyết định tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, phát hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc, một lượng tiền lớn được rút khỏi lưu thông (theo tính toán của một số công ty chứng khoán, lượng tiền đó ước khoảng 40.000 - 60.000 tỷ đồng).
Phía sau những quyết định trên, lãi suất ngân hàng biến động mạnh, tăng cao, nguồn vốn các ngân hàng khó khăn gây ảnh hưởng lớn tới các doanh nghiệp vay vốn, đặc biệt là khối doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đến thời điểm này, nhiều trường hợp đang đứng trước nguy cơ phá sản.
Vấn đề trên được các đại biểu Quốc hội đặt ra chất vấn Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu tại nghị trường sáng nay (12/11). Điểm chung là sự ủng hộ hướng thắt chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát, nhưng thực hiện quá gấp, quá chặt là vấn đề mà các đại biểu yêu cầu phải nhìn lại.
Theo đại biểu Nguyễn Thị Nguyệt Hường (Hà Nội), việc thắt quá chặt, bất ngờ và kéo dài trong những tháng đầu năm như một cú “phanh gấp” và khiến các doanh nghiệp bị “sốc”. Vừa qua Ngân hàng Nhà nước đã có sự nới lỏng chính sách tiền tệ một cách thận trọng. Tuy nhiên việc khôi phục hoạt động của nhiều doanh nghiệp bình thường trở lại không dễ dàng, khi mà tiếp cận các nguồn vốn tín dụng vẫn còn khó khăn.
Còn theo vấn đề đại biểu Nguyễn Hồng Sơn (Hà Nội) băn khoăn, “liệu khi ban hành văn bản với liều lượng với thời gian gấp rút như thế thì Ngân hàng Nhà nước và Thống đốc có tiên lượng trước được vấn đề là sẽ ảnh hướng cực lớn dẫn đến sự phá sản cũng như đình trệ sản xuất của nhóm các doanh nghiệp vừa và nhỏ hay không?”.
Theo ý trả lời của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, chính sách tiền tệ không phải thắt chặt, “phanh” gấp trong năm 2008 mà đã được thực hiện và có tín hiệu trong năm 2007. Cụ thể, từ ngày 28/5/2007, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đã được tăng từ 5% lên 10%; đến 16/1/2008 mới tiếp tục tăng 1%. Mặt khác, giữa thời điểm ban hành và thực hiện đều có độ trễ để các ngân hàng chuẩn bị.
“Đối với các tổ chức tín dụng, việc làm này chúng tôi cũng có trao đổi và cũng đưa ra những tín hiệu. Cụ thể, chúng tôi có ban hành Chỉ thị số 06 ngày 2/11/2007, đến 16/1 chúng tôi mới công bố nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc”, Thống đốc giải thích.
Về việc phát hành tín phiếu bắt buộc, đại biểu Nguyễn Hồng Sơn cho rằng trong thời gian 1 tháng để các ngân hàng chuẩn bị là quá gấp, buộc họ phải chạy đua đẩy lãi suất huy động lên cao để gom đủ vốn, theo đó không còn nguồn vốn cho doanh nghiệp vay hoặc cho vay lãi suất quá cao (23% - 24%/năm), dẫn đến sản xuất kinh doanh đình trệ, nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản.
Trả lời ý kiến trên, người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước cho rằng việc phát hành tín phiếu cũng đã cho một khoảng thời gian 1 tháng để các tổ chức tín dụng chuẩn bị. Mặt khác, với những dữ liệu ông đưa ra, con số 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc, cũng như lượng tiền rút bớt từ tăng dự trữ bắt buộc, khá khiêm tốn so với lượng vốn mà các ngân hàng giải ngân mạnh những tháng trước đó. Và từ đó, Thống đốc gián tiếp trả lời chính sách tiền tệ có quá mạnh tay hay không.
Cụ thể, trong các tháng 11, 12 năm 2007 và tháng 1/2008, tăng trưởng tín dụng chung là 18%, tức mỗi tháng 6%, đồng nghĩa với tăng trưởng tín dụng là 60.000 tỷ đồng. Còn với quyết định nâng dự trữ bắt buộc thêm 1%, các ngân hàng có 45 ngày chuẩn bị, và thực hiện trong tháng 2 thì thu về khoảng 15.000 tỷ đồng.
Và với tình hình lạm phát tăng cao, Ngân hàng Nhà nước quyết định không nâng thêm dự trữ bắt buộc, bởi lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc thấp (1,2%/năm), sẽ tạo thêm gánh nặng chi phí đầu vào của các ngân hàng, ảnh hưởng đến đầu ra. Theo đó, việc phát hành tín phiếu được xác định và có lãi suất cao hơn mức lãi suất tín phiếu thông thường.
“Tôi cho rằng các giải pháp, các bước đi đều có lộ trình. Còn việc điều hành như thế, các doanh nghiệp khó khăn thì chúng ta chống lạm phát trong điều kiện thực hiện 8 nhóm giải pháp cũng như mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững, trong đó mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát, chúng ta đã nói rất rõ”, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu nhấn mạnh.
Do thời lượng chất vấn và trả lời chất vấn trực tiếp có hạn (40 phút), một số câu hỏi về việc Ngân hàng Nhà nước có lường trước những khó khăn đối với doanh nghiệp khi đưa ra các chính sách trên, nếu có sẽ chịu trách nhiệm và rút kinh nghiệm thế nào… vẫn chưa được trả lời. Đáng chú ý là đại biểu Nguyễn Hồng Sơn đã có văn bản chất vấn gửi Thống đốc hơn 10 ngày qua những vẫn chưa được trả lời.
Trong bối cảnh kinh tế đang dần phục hồi sau những biến động toàn cầu, việc huy động vốn tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai đã đạt hơn 6,1 triệu tỉ đồng sau 6 tháng, tăng 7,1% so với cuối năm 2025…
Trong bối cảnh dòng vốn quốc tế ngày càng tác động mạnh đến thị trường ngoại hối, việc sửa đổi Luật Ngân hàng Nhà nước theo hướng tăng quyền chủ động cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong thu thập, tổng hợp và khai thác dữ liệu về ngoại hối, cán cân thanh toán và trạng thái đầu tư quốc tế là cần thiết..
Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Quyết định 1743/QĐ-NHNN, nâng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước được tính vào nguồn vốn huy động của các ngân hàng thương mại từ 20% lên 50% khi xác định tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) trong 2 năm...
Khép lại tuần giao dịch 27–31/7, tỷ giá USD trên thị trường tự do giảm về vùng thấp nhất kể từ đầu năm, trong khi tỷ giá ngân hàng giảm 50 đồng/USD ở cả hai chiều mua – bán, trái ngược với xu hướng tăng của tỷ giá trung tâm. Diễn biến này phản ánh áp lực tỷ giá trong nước đang hạ nhiệt, dù rủi ro từ chính sách của Fed và giá dầu vẫn hiện hữu...
Sau hơn một năm thực thi, Luật Các tổ chức tín dụng 2024 đã tạo nền tảng quan trọng cho an toàn hệ thống ngân hàng thông qua cơ chế can thiệp sớm, xử lý tổ chức tín dụng yếu kém và kiểm soát sở hữu chéo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy trọng tâm cải cách đang chuyển từ xử lý khủng hoảng sang nâng cao năng lực phòng ngừa rủi ro. Thách thức hiện nay không chỉ là hoàn thiện pháp luật mà còn là nâng cao chất lượng thực thi, dữ liệu, giám sát và quản trị để tăng sức chống chịu của hệ thống.
Sáu tháng đầu năm 2026 khép lại với nhiều tín hiệu tích cực của nền kinh tế. Đằng sau những con số tăng trưởng là yêu cầu nhìn lại hiệu quả thực thi các quyết sách và nhận diện những động lực cần tiếp tục được khơi thông trong chặng đường còn lại của năm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Tại Họp báo Chính phủ thường kỳ do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đặng Xuân Phong chủ trì ngày 3/8, thông tin về tình hình phát triển kinh tế-xã hội tháng 7 và 7 tháng đầu năm cho thấy các ngành sản xuất duy trì xu hướng tích cực.