Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 144/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung
một số điều của Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 1/7/2025 quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng đã được sửa đổi, bổ sung một số
điều bởi Nghị định số 359/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025. Nghị định mới có
hiệu lực từ ngày 20/6/2026.
Một trong
những điểm đáng chú ý tại Nghị định là
quy định liên quan đến chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng
hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp từ 5 triệu đồng trở lên.
Theo đó, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ
bằng văn bản, hóa đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán không dùng tiền
mặt của hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để khấu trừ thuế giá trị gia
tăng đầu vào.
Trường
hợp chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt do chưa đến thời điểm thanh
toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng thì cơ sở kinh doanh vẫn được tạm khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
Nghị định đồng thời quy định cơ chế xử lý trong trường hợp doanh nghiệp bổ sung được chứng từ thanh toán sau khi đã điều chỉnh giảm. Khi phát sinh chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt hợp lệ, cơ sở kinh doanh được kê khai bổ sung và khấu trừ lại số thuế giá trị gia tăng đầu vào tương ứng trong kỳ tính thuế có chứng từ.
(Nghị định số 144/2026/NĐ-CP)
Tuy nhiên, nếu
đến hạn thanh toán mà doanh nghiệp không xuất trình được chứng từ thanh toán
không dùng tiền mặt thì phải thực
hiện điều chỉnh giảm phần thuế đã khấu trừ tương ứng với phần giá trị hàng hóa,
dịch vụ không đáp ứng điều kiện trong
kỳ tính thuế phát sinh nghĩa vụ thanh toán.
Bên cạnh đó, Nghị định 144/2026/NĐ-CP sửa đổi
quy định về khấu trừ thuế đầu vào đối với hàng hóa, dịch vụ sử dụng đồng thời
cho hoạt động chịu thuế và không chịu thuế. Theo nguyên tắc, doanh nghiệp chỉ
được khấu trừ phần thuế đầu vào tương ứng với hoạt động sản xuất, kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng.
Doanh nghiệp có trách nhiệm thực
hiện hạch toán riêng thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ và không được
khấu trừ. Nếu không thể tách riêng thì áp dụng phương pháp phân bổ theo tỷ lệ phần trăm doanh
thu chịu thuế trên tổng doanh thu trong kỳ tính thuế.
Trong đó, tổng
doanh thu làm căn cứ bao gồm cả doanh thu chịu thuế, không chịu thuế và giá trị
gia tăng từ hoạt động mua bán, chế tác vàng bạc, đá quý (trừ trường hợp giá
trị gia tăng âm).
Đáng chú ý, cách xác định doanh thu đối với một số lĩnh vực đặc thù
cũng được điều chỉnh. Trước
đây tại Nghị định 181/2025/NĐ-CP, hoạt động
kinh doanh ngoại tệ, mua bán chứng khoán thì doanh thu là chênh lệch giữa giá
bán và giá mua (trừ trường hợp chênh lệch âm).
Tuy nhiên, theo quy định mới, cách
xác định doanh thu được chuyển sang áp dụng theo pháp luật chuyên ngành.
Cụ thể, doanh thu của tổ chức tín dụng và chi
nhánh ngân hàng nước ngoài được xác định theo pháp luật về các tổ chức tín
dụng; doanh thu từ hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán được xác
định theo pháp luật về chứng khoán; doanh thu từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm
được xác định theo pháp luật về kinh doanh bảo hiểm.
Song song, Nghị định
số 144/2026 cũng mở
rộng phạm vi hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng.
Trong đó,
nhiều loại hình bảo hiểm được bổ sung vào nhóm không chịu thuế, bao gồm bảo
hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm người học, các sản phẩm bảo hiểm
liên quan trực tiếp đến con người, bảo hiểm nông nghiệp như bảo hiểm vật nuôi
và cây trồng, bảo hiểm phục vụ hoạt động khai thác thủy sản, cũng như các sản
phẩm tái bảo hiểm theo quy định pháp luật.
Bên cạnh lĩnh vực bảo hiểm, nghị định cũng bổ
sung hoạt động bán nợ vào diện không chịu thuế giá trị gia tăng. Phạm vi này
bao gồm cả khoản phải thu, khoản phải trả và chứng chỉ tiền gửi, phản ánh sự
điều chỉnh theo hướng phù hợp hơn với bản chất các giao dịch tài chính.
Ngoài
ra, quy định về hàng hóa xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản tiếp tục được điều
chỉnh theo hướng linh hoạt hơn. Các sản phẩm thuộc danh mục không khuyến khích
hoặc hạn chế xuất khẩu sẽ thuộc diện không chịu thuế giá trị gia tăng, với danh
mục cụ thể do cơ quan quản lý đề xuất và Chính phủ quyết định theo từng thời
kỳ.