Nhận định về xu hướng này, bà Đỗ Minh Trang, Giám đốc Trung tâm Phân tích, Công ty Chứng khoán ACB (ACBS) cho rằng sự thận trọng của nhà đầu tư đối với lãi suất và lạm phát là hoàn toàn có cơ sở và có ảnh hưởng nhất định đến thị trường trong ngắn hạn. Năm 2025, tăng trưởng tín dụng đạt 19,01%, khiến nhu cầu huy động vốn tăng và mặt bằng lãi suất huy động nhích lên ở hầu hết các kỳ hạn.
Về lạm phát, rủi ro vẫn trong tầm kiểm soát. CPI năm 2025 tăng 3,31%, thấp hơn ngưỡng mục tiêu. Dù Chính phủ đặt ngưỡng chấp nhận CPI cao hơn trong giai đoạn 2026–2030 (khoảng 4,5%), chưa thấy dấu hiệu lạm phát tăng mạnh nếu không xuất hiện cú sốc giá hàng hóa toàn cầu. Bà Trang kỳ vọng CPI năm 2026 khoảng 4,0%.
Do đó, dù có lo ngại về lãi suất và lạm phát song hai yếu tố này chủ yếu mang tính điều tiết nhịp tăng, không làm đảo chiều xu hướng thị trường. Với kỳ vọng trung – dài hạn từ chính sách và triển vọng lợi nhuận doanh nghiệp, rủi ro điều chỉnh sâu là không lớn nếu các cân đối vĩ mô được kiểm soát tốt.
ACBS đã đưa ra dự báo năm 2026, lãi suất huy động tăng khoảng 1,0% - 1,5%, lãi suất cho vay tăng 1,5% -2,0%. Mặt bằng lãi suất mới (huy động 6,0% - 6,5%, cho vay 8,5% - 9,0%) vẫn cho phép nền kinh tế duy trì sức chống chịu tốt nếu được vận hành hiệu quả.
Đối với vấn đề tỷ giá, ông Nguyễn Kỳ Minh, Kinh tế trưởng, Công ty CP Chứng khoán Guotai Junan Việt Nam (IVS) khẳng định chắc chắn sẽ có ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán.
Vấn đề tỷ giá sẽ là một yếu tố quyết định, cùng với đó là chênh lệch lớn của huy động vốn và tín dụng, và có vẻ thị trường đã có những dịch chuyển phù hợp. Các vấn đề về lãi suất và lạm phát, nhìn chung sẽ phản ánh một cách tổng hợp nhất đến những điều này. Ví dụ như tỷ giá, sẽ phản ánh xu hướng chênh lệch lãi suất danh nghĩa (kỳ vọng dài hạn dựa trên lợi suất thực của nền kinh tế và lạm phát), cho nên nhiều quốc gia để bảo vệ nội tệ khi có biến động mạnh sẽ phải nâng lãi suất.
Huy động vốn – tín dụng cũng vậy, khi lãi suất thấp, thì vay nợ nhiều, nhưng lại khó huy động được nguồn vốn, và chiều ngược lại.
Gần đây, lãi suất huy động và cho vay của nhiều ngân hàng đã tăng, với lãi suất huy động phổ biến ở khoảng 6% - 7%, tăng cỡ 1% - 1,5% so với trước đó. Như vậy lãi suất sẽ phải tiếp tục tăng.
"Lý do là cho đến giờ, theo tôi biết Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa tăng được dự trữ ngoại hối thông qua việc mua từ thị trường. Điều này tính đến nay là kéo dài sang năm thứ 3, lượng tăng dự trữ ngoại hối nhìn chung đến từ việc nhận lãi các trái phiếu chính phủ đang nắm giữ hoặc từ việc hủy các giao dịch mua kỳ hạn của các ngân hàng là chính.
Gần đây, lãi suất interbank có giai đoạn lên đến 7%+ cho các kỳ hạn 1 tháng. Tuy nhiên, cách đây khoảng 10 năm, chênh lệch lãi suất VND - USD trên thị trường interbank để ổn định tỷ giá là vào khoảng 3%, với nhiều giai đoạn chênh lệch lên tới 5%. Lãi suất USD các kỳ hạn 1-3 tháng bám sát lãi suất Fed hiện đang vào khoảng 3,6%.
Như vậy, mức lãi suất interbank cho VND 7% là tương đối bình thường để ổn định tỷ giá, nếu không nói hoàn toàn có thể cao hơn.
Và như vậy, trong tình hình địa chính trị biến động, ngoại hối và quản lý ngoại hối cho một quốc gia có độ mở kinh tế lớn như Việt Nam sẽ tiếp tục là trọng tâm, khi đó, nền lãi suất ở Việt Nam có thể sẽ phải tiếp tục tăng thêm và cho đến khi điều này được phản ánh, thì có thể sẽ có những nhịp điều chỉnh trong những giai đoạn khó khăn ngắn hạn.
Về điểm số, theo bà Trang, thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2026 được dự báo tích cực theo hướng bền vững và có độ lan tỏa cao. Đà tăng sẽ được dẫn dắt bởi các doanh nghiệp có nền tảng tài chính tốt, tăng trưởng lợi nhuận thực chất và định giá hợp lý, chủ yếu thuộc nhóm vốn hóa lớn như ngân hàng, bán lẻ, công nghệ, đầu tư công và một số doanh nghiệp Nhà nước trong các lĩnh vực trọng yếu như năng lượng, logistics và hạ tầng.
ACBS dự báo lợi nhuận doanh nghiệp niêm yết sẽ tăng 14% - 15% trong năm 2026, với triển vọng tương đối đồng đều giữa các nhóm ngành. Theo đó, VN Index có thể tăng tương ứng 14% - 15%, ngay cả khi chưa mở rộng vùng định giá.
Ông Nguyễn Kỳ Minh cho rằng từ nay dòng vốn ngoại sẽ dần ổn định, nhưng chưa có đột phá trong ngắn hạn. Nếu các yếu tố đã đề cập diễn biến như kỳ vọng, năm nay tốc độ tăng 15% - 20% của VN-Index là hoàn toàn có thể đạt được, phù hợp với việc tăng trưởng của cung tiền, GDP danh nghĩa, tín dụng và các dịch chuyển cấu trúc. Mốc 2.000 điểm gần như là chắc chắn với VN-Index năm nay, còn các mốc thách thức hơn là ở 2.200 - 2.300 điểm.




Việc Bộ Tài chính Mỹ ủng hộ Nhật Bản can thiệp tỷ giá cho thấy nhà chức trách ở cả Tokyo và Washington đều lo ngại về hoạt động đầu cơ giá xuống đồng yên trong thời gian gần đây...
Trong tuần qua, căng thẳng địa chính trị tiếp diễn ở Vùng Vịnh và số liệu lạm phát khiến triển vọng lãi suất ở một số nền kinh tế lớn trở nên khó đoán định hơn...
Suốt nhịp điều chỉnh từ vùng đỉnh cao lịch sử giữa tháng 5/2026 đến nay, lần đầu tiên thị trường có nhịp phục hồi liên tiếp 3 phiên mạnh mẽ như tuần qua. Tuy nhiên thanh khoản vẫn rất thấp và VN-Index gặp khó khăn khi kiểm định lại ngưỡng trung bình 200 ngày quanh mức 1770 điểm.
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 31-2026 phát hành ngày 03/08/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
VnEconomy giới thiệu nhận định và khuyến nghị đầu tư của một số công ty chứng khoán về diễn biến thị trường tuần từ 3-7/8/2026.
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Những nếp nhà sàn nép mình bên sườn núi, thửa ruộng bậc thang uốn lượn hay bữa cơm đậm hương vị bản địa đang trở thành "điểm chạm" níu chân du khách. Từ những giá trị vốn có, nhiều vùng cao đã biến du lịch cộng đồng thành động lực phát triển kinh tế và nâng cao đời sống người dân.