Đây là một trong những định hướng trong tuyên bố chung của đồng chủ tịch Hội nghị quốc tế về Kinh tế đại dương bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu: Giải pháp cho nền kinh tế biển xanh có khả năng chống chịu.
Diễn ra trong 2 ngày 12 và 13/5 tại Hà Nội, Hội nghị do Chính phủ Việt Nam, Chính phủ Na Uy và Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc tổ chức. Hội nghị tập trung vào 5 chủ đề chính: Phục hồi Kinh tế Biển xanh hậu Covid-19 và hướng tới nền kinh tế đại dương xanh và bền vững; Quy hoạch không gian biển, xây dựng các thành phố ven biển và hạ tầng có khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu; Chống ô nhiễm biển và rác thải nhựa đại dương; tài chính cho khí hậu và các đại dương…
Tại Hội nghị, các Bộ trưởng nhấn mạnh mối quan tâm chung trong phát triển và bảo tồn các nguồn lực cho kinh tế biển xanh bền vững có khả năng chống chịu, đảm bảo quản trị đại dương dựa trên quy tắc. “Sức khoẻ của các đại dương trên thế giới là rất quan trọng đối với tương lai chung của nhân loại, vì đại dương thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đổi mới sáng tạo và thịnh vượng xã hội, an ninh lương thực, sinh kế và việc làm ở nhiều quốc gia”.
Các Bộ trưởng tái khẳng định luật pháp quốc tế, được phản ánh trong Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển (UNCLOS 1982) và Công ước về Đa dạng sinh học (CBD 1992), cung cấp khung pháp lý cho việc bảo tồn và sử dụng bền vững đại dương và tài nguyên từ đại dương.
Cùng với các tác động sâu sắc, rộng lớn và ngày càng tăng của biến đổi khí hậu đối với đại dương và kinh tế biển xanh, các Bộ trưởng cũng ghi nhận những tác động của Covid-19 lên các ngành trọng yếu của kinh tế biển xanh, gồm giao thông, du lịch, vận tải biển, khai thác và sản xuất thủy sản, và nhấn mạnh sự cần thiết phục hồi xanh bền vững và bao trùm.
Các Bộ trưởng nhận thấy sự suy giảm nhanh chóng của sức khỏe đại dương và biến đổi khí hậu là những thách thức đặc biệt nghiêm trọng với các quốc gia đảo nhỏ đang phát triển, các quốc gia thành viên của Diễn đàn dễ bị tổn thương do khí hậu, các nước kém phát triển cũng như nhiều nước đang phát triển có thu nhập trung bình và có nhiều nước phụ thuộc rất nhiều vào sử dụng bền vững nguồn tài nguyên do đại dương và các vùng ven biển cung cấp cho sinh kế, tăng trưởng phát triển kinh tế…
Một thách thức đe dọa đại dương cũng được chỉ ra chính là mức độ ô nhiễm chất thải nhựa gia tăng rất nhanh trong các thập kỷ gần đây
Trong bối cảnh đó, tuyên bố chung đã nêu rõ những định hướng quan trọng nhằm phát triển nền kinh tế biển xanh bền vững có khả năng chống chịu. Các Bộ trưởng xác định sự cần thiết với tất cả các bên liên quan tham gia giải quyết những vấn đề ở cấp địa phương, quốc gia, khu vực và toàn cầu, trên cơ sở Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS 1982) với các hành động ưu tiên.
Trước hết là phục hồi và xây dựng tốt hơn sau đại dịch Covid-19 vì một nền kinh tế biển bền vững và có khả năng chống chịu với khí hậu. Tuyên bố cũng nhấn mạnh hành động ưu tiên giải quyết các rủi ro an ninh liên quan đến khí hâu; quy hoạch không gian biển, các đô thị và hạ tầng ven biển chống chịu với biến đổi khí hậu; bảo vệ đại dương, chống ô nhiễm biển bao gồm ô nhiễm nhựa; Đảm bảo công bằng giới và tăng cường khả năng phục hồi của các cộng đồng dễ bị tổn thương. Đồng thời tiếp cận nguồn tài chính hiệu quả, công bằng, đầy đủ để giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu nhằm hỗ trợ nền kinh tế xanh bền vững và phục hồi.
Nền kinh tế biển xanh bền vững phụ thuộc vào việc phát huy toàn bộ tiềm năng kinh tế của các đại dương theo phương pháp quản lý tổng hợp, bảo vệ và bảo tồn tài nguyên đại dương cho các thế hệ tương lai. Thích ứng với biến đổi khí hậu đòi hỏi sự lãnh đạo hiệu quả và các nỗ lực tổng hợp với sự tham gia của tất cả các bên liên quan.
Phát biểu bế mạc Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Lê Minh Ngân nhấn mạnh: “Qua 2 ngày làm việc đã giúp chúng ta nhận thức sâu sắc hơn nữa tầm quan trọng trong việc phát triển kinh tế biển xanh bền vững có khả năng chống chịu trước các thách thức và rủi ro an ninh liên quan đến khí hậu”.
Thứ trưởng Lê Minh Ngân cũng nêu rõ 5 cam kết được đưa ra qua hội nghị. Một là, kiến tạo chính sách và môi trường pháp lý quốc tế cho một nền kinh tế biển bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu, đặc biệt với các nước và các bên liên quan dễ bị tổn thương.
Hai là, thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu toàn diện do Liên hợp quốc quản lý về tác động đa chiều của biến đổi khí hậu, của nước biển dâng, của rác thải nhựa nhằm hỗ trợ xây dựng chính sách ứng phó toàn cầu.
Ba là, giải quyết các thách thức và rủi ro an ninh liên quan đến biến đổi khí hậu thông qua thúc đẩy và xây dựng các cơ chế hợp tác an ninh toàn cầu và khu vực thiết thực và hiệu quả, có tính đến các yếu tố về kinh tế, xã hội, tâm lý, giới và các khía cạnh khác.
Bốn là, tăng cường khả năng phục hồi phát triển kinh tế biển bền vững sau covid-19 và khả năng thích ứng của các quốc gia, cộng đồng và các bên liên quan dễ bị tổn thương để xây dựng và phát triển các ngành kinh tế biển quan trọng như giao thông vận tải biển, nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản, Du lịch biển/ven biển, và các nguồn năng lượng tái tạo.
Năm là, khuyến khích đầu tư, nghiên cứu, phát triển và chuyển giao công nghệ biển, chuyển sang sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo biển xanh mới và giám sát quản lý sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên biển, nâng cao nhận thức, sự tham gia rộng rãi của các bên trong xây dựng quyết định và chính sách về kinh tế biển bền vững.
Các đại biểu cho rằng, phân loại cấp độ rủi ro là công cụ quan trọng để xác định mức độ bảo vệ phù hợp, do đó đề nghị Ban soạn thảo quy định rõ tiêu chí phân loại rủi ro an ninh dữ liệu, phương pháp đánh giá và chủ thể chịu trách nhiệm, tiêu chí phân cấp phải rõ, kiểm chứng được và áp dụng thống nhất…
Tại họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 10 trưa ngày 4/11, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đặng Xuân Phong cho biết tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng đầu năm tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực, các nguồn lực phát triển được khơi thông. Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng quý 4 trên 12,5% đặt ra thách thức lớn, đòi hỏi tập trung triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp trong hai tháng cuối năm.
Thảo luận dự án Luật Điện lực sửa đổi, các đại biểu Quốc hội tập trung đề xuất cơ chế đặc thù cho điện sinh khối, hoàn thiện pháp lý điện mặt trời mái nhà cùng cơ chế chia sẻ rủi ro điện gió ngoài khơi, nhằm tháo gỡ điểm nghẽn và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia…
Sáng 3/11, tại Hà Nội, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn hội đàm với Chủ tịch Quốc hội Lào Sonexay Siphandone. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác nghị viện, phối hợp giám sát thực hiện các thỏa thuận cấp cao, thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư tương xứng với quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào.
Tại cuộc hội kiến Chủ tịch Quốc hội Lào Sonexay Siphandone, Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh yêu cầu cụ thể hóa các cam kết cấp cao thành chương trình, dự án thiết thực; tạo đột phá trong hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư giữa hai nước.
Chuyển đổi xanh ngành lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ đòi hỏi giảm phát thải, nâng cao chất lượng hạt gạo mà còn phải bảo đảm sinh kế và phân chia lợi ích công bằng. Dự án GORICE hướng tới phát triển chuỗi giá trị lúa gạo bền vững, đồng thời trao quyền cho phụ nữ, người dân tộc thiểu số và các nhóm yếu thế tham gia, hưởng lợi bình đẳng.
Gắn kết vùng nguyên liệu với doanh nghiệp thông qua việc thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị, kết nối cơ sở sản xuất với doanh nghiệp đầu chuỗi, kênh phân phối và thị trường tiêu thụ... là định hướng chung được Chính phủ xác định. Mô hình liên kết này đang mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân, doanh nghiệp.