Theo Thông tư số 15/2026/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành, các hoạt động liên quan đến tài sản mã hóa tại Việt Nam sẽ được hướng dẫn hạch toán kế toán theo những nguyên tắc tương đồng với hoạt động chứng khoán và đầu tư tài chính, trong thời gian triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa.
Thông tư quy định, tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa khi thực hiện hoạt động tự doanh phải ghi nhận doanh thu, chi phí tương tự như hoạt động kinh doanh chứng khoán. Việc áp dụng này chỉ nhằm mục đích hạch toán kế toán, không đồng nghĩa coi tài sản mã hóa là chứng khoán.
Các tổ chức cung cấp dịch vụ cũng phải theo dõi chi tiết từng loại tài sản mã hóa tự doanh đang nắm giữ, ghi nhận đầy đủ các khoản thu từ hoạt động này, đồng thời thực hiện trích lập dự phòng rủi ro tương tự hoạt động tự doanh của các công ty chứng khoán.
Đối với nhà đầu tư trong nước, hoạt động mua bán tài sản mã hóa trên các nền tảng giao dịch được hạch toán tương tự hoạt động đầu tư tài chính, căn cứ theo mục đích nắm giữ và đầu tư để ghi nhận kế toán phù hợp.
Trong khi đó, với các tổ chức phát hành tài sản mã hóa, việc hạch toán sẽ dựa trên bản chất nghĩa vụ phát sinh từ tài sản đã phát hành. Trường hợp tài sản mã hóa mang bản chất huy động vốn, doanh nghiệp có thể hạch toán tương tự như khoản vay.
Thông tư cũng yêu cầu các tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa phải quản lý và hạch toán tách biệt tiền, tài sản mã hóa của khách hàng với tài sản của doanh nghiệp, đồng thời theo dõi chi tiết theo từng khách hàng và từng loại tài sản mã hóa. Tài sản mã hóa của khách hàng lưu ký tại tổ chức cung cấp dịch vụ không được ghi nhận là tài sản của doanh nghiệp mà chỉ được theo dõi để phục vụ quản lý và thuyết minh trên báo cáo tài chính.
Tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa ghi nhận doanh thu đối với các khoản thu từ phí dịch vụ lưu ký, phí dịch vụ quản lý tài sản mã hoá của khách hàng, dịch vụ thực hiện quyền, chuyển giao tài sản mã hoá cho khách hàng, dịch vụ quản lý tài sản ký quỹ và doanh thu dịch vụ lưu ký khác.