
Giá vàng trong nước và thế giới
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Thứ Bảy, 03/01/2026
Vũ Khuê
29/06/2024, 11:00
Giá thịt lợn tăng do ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi tại một số địa phương; giá dịch vụ y tế của một số tỉnh, thành phố được điều chỉnh… là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2024 tăng 0,17% so với tháng trước. Theo đó, CPI bình quân quý 2/2024 tăng 4,39%; 6 tháng đầu năm 2024 tăng 4,08% so với cùng kỳ năm 2023...
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê công bố sáng 29/6, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2024 tăng 0,17% so với tháng trước. So với tháng 12/2023 CPI tháng 6/2024 tăng 1,40% và so với cùng kỳ năm trước tăng 4,34%.
CPI bình quân quý 2/2024 tăng 4,39% so với quý 2/2023. Bình quân 6 tháng năm 2024, CPI tăng 4,08% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 2,75%.
Trong mức tăng 0,17% của CPI tháng 6/2024 so với tháng trước, có 8 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng và 03 nhóm hàng có chỉ số giá giảm.
Trong 8 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng mạnh nhất với mức 0,75% (tác động làm CPI chung tăng 0,25 điểm phần trăm). Cụ thể, lương thực tăng 0,05%; thực phẩm tăng 1,07% (tác động làm CPI chung tăng 0,23 điểm phần trăm); ăn uống ngoài gia đình tăng 0,26%.
Tiếp đến nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,68%, trong đó giá dịch vụ du lịch trọn gói tăng 2,84%; nhà khách, khách sạn tăng 0,19% do tháng 6 là tháng học sinh nghỉ hè nên nhu cầu đi du lịch của các cơ quan, doanh nghiệp và gia đình tăng cao.
Bên cạnh đó, nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,6%, trong đó giá khám chữa bệnh nội trú tăng 1,05%; dịch vụ khám chữa bệnh ngoại trú tăng 0,42%. Nguyên nhân chủ yếu do một số địa phương triển khai áp dụng giá dịch vụ y tế mới theo Thông tư số 22/2023/TT-BYT ngày 17/11/2023 của Bộ Y tế quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc và hướng dẫn áp dụng giá, thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong một số trường hợp.
Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,35% chủ yếu do các nguyên nhân sau: Giá điện sinh hoạt tăng 0,67%; nước sinh hoạt tăng 2,38% do thời tiết nắng nóng dẫn đến nhu cầu sử dụng của người dân tăng lên; giá thuê nhà tăng 0,35%; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,13%.
Bên cạnh các mặt hàng tăng giá, có một số mặt hàng giảm giá: Giá gas giảm 0,66% do từ ngày 01/6/2024, giá gas trong nước điều chỉnh giảm 3.400 đồng/bình 12 kg sau khi giá gas thế giới giảm 10 USD/tấn so với tháng trước xuống mức 572,5 USD/tấn; giá dầu hỏa giảm 0,28% do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá trong tháng.
Cũng theo số liệu của Tổng cục Thống kê, CPI bình quân quý 2/2024 tăng 4,39% so với cùng kỳ năm trước.
Trong quý 2/2024, nhóm giáo dục tăng cao nhất với 8,15%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 7,63%; hàng hóa và dịch khác là 6,13%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,62%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,48%; giao thông tăng 4,28%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,61%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,1%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 1,66%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,31%. Riêng bưu chính, viễn thông giảm 1,36%.
CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2024 tăng 4,08% so với bình quân cùng kỳ năm 2023. Nguyên nhân chủ yếu do chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống bình quân 6 tháng đầu năm 2024 tăng 4% so với cùng kỳ năm trước (tác động làm CPI chung tăng 1,34 điểm phần trăm).
Trong đó, chỉ số giá: Nhóm lương thực tăng 15,76%, tác động làm CPI tăng 0,58 điểm phần trăm, trong đó giá gạo tăng 20,98% theo giá gạo xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng tăng trong dịp lễ, Tết, làm CPI chung tăng 0,53 điểm phần trăm; nhóm thực phẩm tăng 2,05%, làm CPI chung tăng 0,44 điểm phần trăm; nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 4,13%, làm CPI chung tăng 0,36 điểm phần trăm do nhu cầu tăng cùng với giá nguyên liệu đầu vào và chi phí nhân công tăng.
Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,51% so với cùng kỳ năm trước, tác động làm CPI chung tăng 1,04 điểm phần trăm, chủ yếu do chỉ số giá nhà ở thuê và nhà chủ sở hữu tính quy đổi tăng 4,95%, tác động làm CPI tăng 0,52 điểm phần trăm; chỉ số giá điện sinh hoạt tăng 9,45% do nhu cầu sử dụng điện tăng cùng với việc EVN điều chỉnh mức bán lẻ giá điện bình quân trong năm 2023 làm CPI chung tăng 0,31 điểm phần trăm; chỉ số giá nước sinh hoạt bình quân 6 tháng tăng 10,15% so với cùng kỳ năm trước; vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 1,87%...
Bên cạnh đó, yếu tố góp phần kiềm chế tốc độ tăng CPI 6 tháng năm 2024 là: Chỉ số giá nhóm bưu chính, viễn thông 6 tháng năm 2024 giảm 1,41% so với cùng kỳ năm trước do giá điện thoại thế hệ cũ giảm khi các doanh nghiệp áp dụng chương trình giảm giá, kích cầu đối với các dòng điện thoại thông minh đưa ra thị trường sau một thời gian.
Báo cáo cũng cho thấy, lạm phát cơ bản tháng 6/2024 tăng 0,18% so với tháng trước, tăng 2,61% so với cùng kỳ năm trước.
Bình quân 6 tháng năm 2024, lạm phát cơ bản tăng 2,75% so với cùng kỳ năm 2023, thấp hơn mức CPI bình quân chung (tăng 4,08%), chủ yếu do giá lương thực, điện, dịch vụ giáo dục và dịch vụ y tế là yếu tố tác động làm tăng CPI nhưng thuộc nhóm hàng được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.
Thống kê cho thấy giá vàng trong nước cùng chiều với giá vàng thế giới. Tính đến ngày 24/6/2024, bình quân giá vàng thế giới ở mức 2.348,27 USD/ounce, giảm 0,18% so với tháng 5/2024.
Chỉ số giá vàng tháng 6/2024 giảm 2,64% so với tháng trước; tăng 18,26% so với tháng 12/2023; tăng 29,51% so với cùng kỳ năm trước; bình quân sáu tháng đầu năm 2024 tăng 24,02%.
Tính đến ngày 24/6/2024, chỉ số đô la Mỹ trên thị trường quốc tế đạt mức 104,87 điểm, giảm 0,18% so với tháng trước. Trong nước, giá đô la Mỹ bình quân trên thị trường tự do quanh mức 25.455 VND/USD. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 6/2024 giảm 0,04% so với tháng trước; tăng 4,17% so với tháng 12/2023; tăng 7,66% so với cùng kỳ năm trước; bình quân sáu tháng đầu năm 2024 tăng 5,64%.
Do Hội đồng biên tập Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy bình chọn
Việc gia hạn áp thuế chống bán phá giá đối với thép cán nguội từ Trung Quốc thêm 5 năm nhằm bảo vệ ngành sản xuất trong nước trước nguy cơ tái diễn hành vi bán phá giá, gây thiệt hại sau kết quả rà soát cuối kỳ…
CBSA kết luận Chính phủ Việt Nam không can thiệp giá thép và doanh nghiệp xuất khẩu duy nhất của Việt Nam không bán phá giá nên không bị áp thuế. Trong khi đó, các quốc gia khác chịu thuế đến 47,9%. Kết quả này khẳng định ngành thép Việt Nam hoạt động theo cơ chế thị trường cạnh tranh, giúp doanh nghiệp giữ vững lợi thế tại Canada…
Những thành quả toàn diện đạt được trong năm 2025 đã tạo nền tảng vững chắc, tiếp thêm động lực và niềm tin để Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) bước vào năm 2026 - năm mở đầu cho chiến lược phát triển mới, tiếp tục khẳng định vai trò và sứ mệnh của một “doanh nghiệp dân tộc”.
Ngành sản xuất Việt Nam khép lại năm 2025 với những tín hiệu tăng trưởng tích cực khi chỉ số PMI đạt 53 điểm, đánh dấu chuỗi cải thiện điều kiện kinh doanh xuyên suốt 6 tháng cuối năm. Với sản lượng và đơn hàng mới tăng mạnh cùng niềm tin kinh doanh tăng cao, các doanh nghiệp đang tạo bệ phóng vững chắc để hướng tới mục tiêu sản lượng công nghiệp tăng 6,7% trong năm 2026…
Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?
Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán), có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu). Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính: