Sứ mệnh chuyển giao tri thức, kiến tạo năng lực quốc gia không còn chỉ là kỳ vọng đối với đại học Việt Nam, mà đã trở thành một yêu cầu chính sách rõ ràng. Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực chủ yếu của phát triển; Nghị quyết số 71-NQ/TW yêu cầu nâng tầm các cơ sở giáo dục đại học thành trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp, giữ vai trò nòng cốt trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của quốc gia và từng vùng.
Đó là những bước chuyển lớn trong cách nhìn nhận vai trò của đại học. Trong nhiều năm, thành tựu của các trường thường được đo bằng số người được đào tạo, số bài báo, đề tài, bằng sáng chế hay vị trí trên các bảng xếp hạng quốc tế. Những thước đo ấy vẫn cần thiết, nhưng không tự động chuyển hóa thành sức mạnh phát triển. Công bố quốc tế chất lượng chưa chắc đã được chuyển hóa thành năng lực công nghệ nội sinh; đề tài nghiệm thu đúng hạn chưa chắc đã giải quyết được bài toán thực tế của doanh nghiệp; khuyến nghị chính sách đúng đắn chưa chắc đã trở thành cơ chế vận hành và năng lực thực thi của cơ quan công quyền; tri thức tiến bộ cũng chưa chắc đã đi vào đời sống để bồi đắp, nuôi dưỡng một xã hội văn minh, đổi mới sáng tạo hơn.
Bởi vậy, một đại học lớn không chỉ được đo bằng số lượng công bố hay vị trí xếp hạng, mà còn phải trả lời những câu hỏi khó hơn: Khi đất nước cần làm chủ công nghệ chiến lược hoặc tìm lời giải cho bài toán phát triển lớn, đại học có trở thành lực lượng tri thức nòng cốt không? Khi doanh nghiệp đối diện với một vấn đề phức tạp, họ có tìm đến đại học Việt Nam không? Khi chính quyền cần thiết kế và thực thi cải cách lớn, đại học có đồng hành từ nhận diện vấn đề đến thử nghiệm và hoàn thiện giải pháp không? Khi xã hội đứng trước những thách thức mới, đại học có trở thành một phần của lời giải hay đứng bên lề?
Sứ mệnh này không thay thế đào tạo và nghiên cứu, cũng không biến đại học thành đơn vị cung ứng dịch vụ cho những yêu cầu ngắn hạn. Trái lại, nó đưa đào tạo và nghiên cứu đi đến tận cùng ý nghĩa của chúng: chuyển giao tri thức, kiến tạo năng lực quốc gia.
Để tri thức đi đến tận cùng giá trị, trước hết đại học phải xác định rõ tri thức ấy cần đi tới đâu và tạo ra năng lực gì. Cụ thể, tri thức đại học cần được chuyển hóa thành bốn trụ cột phát triển mà đất nước đang cần: năng lực làm chủ công nghệ, năng lực quản trị của doanh nghiệp, chất lượng thể chế và năng lực thực thi của Nhà nước, cùng một nền văn hóa đổi mới và phát triển.
Ở tầng nền tảng, tri thức đại học phải góp phần bồi đắp năng lực công nghệ của đất nước. Một quốc gia có thể mua máy móc, dây chuyền hoặc quyền sử dụng, nhưng khó mua trọn vẹn khả năng tự chủ. Những yếu tố quyết định như nguyên lý cốt lõi, thiết kế, dữ liệu, vật liệu, mã nguồn, năng lực tích hợp và khả năng nâng cấp thường được giữ lại hoặc chỉ chuyển giao có điều kiện. Vì thế, đóng góp của đại học không dừng ở việc tạo ra nguyên mẫu hay bàn giao thiết bị, mà phải giúp hình thành đội ngũ chuyên gia, năng lực thiết kế, khả năng sửa chữa, cải tiến và phát triển các thế hệ công nghệ tiếp theo. Sản phẩm có thể hoàn thành, nhưng năng lực phải được tích lũy và ở lại.
Ở tầng vận hành, tri thức đại học cần góp phần nâng cấp năng lực quản trị của doanh nghiệp. Công nghệ hiện đại không tự tạo ra năng suất; dữ liệu cũng không tự chuyển thành những quyết định đúng. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam có khả năng ứng biến nhanh và sức chống chịu đáng kể, nhưng các thế mạnh ấy vẫn phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm cá nhân. Đại học có thể đồng hành cùng doanh nghiệp để nhận diện, kiểm chứng và khái quát những kinh nghiệm đó thành quy trình, mô hình quản trị và năng lực học hỏi có thể duy trì, nhân rộng. Đây là một phương diện chuyển giao tri thức không kém phần quan trọng so với chuyển giao công nghệ.
Ở tầng thể chế, tri thức đại học cần được chuyển hóa thành năng lực thiết kế và thực thi chính sách. Đại học không chỉ đứng ngoài để phân tích hay phản biện, mà có thể đồng hành cùng cơ quan công quyền trong nhận diện điểm nghẽn, thiết kế cơ chế, thử nghiệm mô hình và đo lường kết quả.
Việc Trường Đại học Kinh tế thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với các cơ quan của Hà Nội và doanh nghiệp công nghệ xây dựng hệ thống quản trị thực thi nhiệm vụ gắn với OKR/KPI là một ví dụ. Giá trị chuyển giao không chỉ nằm ở bộ chỉ số hay phần mềm, mà ở năng lực biến mục tiêu thành nhiệm vụ cụ thể, gắn trách nhiệm với từng chủ thể, theo dõi tiến độ bằng dữ liệu và điều chỉnh kịp thời trong quá trình thực thi.
Ở tầng sâu nhất, tri thức đại học phải góp phần kiến tạo văn hóa đổi mới và phát triển. Công nghệ, quản trị và thể chế khó tạo nên sức mạnh bền vững nếu thiếu một môi trường tôn trọng tri thức, đề cao kỷ luật hành động, khuyến khích hợp tác liên ngành và chấp nhận thử nghiệm. Đại học bồi đắp môi trường ấy thông qua đào tạo con người, sản sinh tư tưởng, nuôi dưỡng những tranh luận có chất lượng và đưa câu chuyện phát triển của Việt Nam vào dòng chảy tri thức toàn cầu. Đó cũng là một nền tảng quan trọng của sức mạnh mềm quốc gia.
Tùy theo thế mạnh và vị thế của mình, mỗi đại học phải xác định rõ những lĩnh vực có thể dẫn dắt, những nhiệm vụ cần tham gia và những đối tác cần liên kết để bổ sung năng lực. Định vị càng rõ, nguồn lực càng được tập trung, trách nhiệm càng được xác lập và tác động càng dễ đo lường.
Xác định được đích đến của tri thức mới chỉ là bước đầu, thách thức lớn hơn là xây dựng cơ chế để tri thức đi trọn hành trình từ nghiên cứu đến ứng dụng và tạo ra tác động thực chất.
Điểm nghẽn lớn hiện nay không chỉ nằm ở thiếu kinh phí hay thiếu cơ chế, mà ở cách tổ chức hành trình của tri thức. Nhiều nhiệm vụ vẫn đi theo một chuỗi quen thuộc: đề xuất đề tài, nghiên cứu, nghiệm thu, rồi mới tìm nơi ứng dụng. Khi người dùng cuối chỉ xuất hiện ở chặng cuối, sản phẩm rất dễ đúng với hồ sơ nhưng không khớp với nhu cầu thực tế.
Muốn thay đổi, đại học phải chuyển từ tư duy “đề tài” sang tư duy “chương trình sứ mệnh”. Một bài toán lớn về công nghệ chiến lược, quản trị đô thị, dữ liệu công, năng suất doanh nghiệp hay công nghiệp văn hóa không thể được giải quyết bằng một dự án ngắn hạn, mà cần một chương trình nhiều năm, trong đó nghiên cứu, đào tạo, thử nghiệm, chuyển giao và phát triển đội ngũ được thiết kế như các phần của cùng một quá trình.
Với các chương trình như vậy, doanh nghiệp, địa phương hoặc cơ quan sử dụng kết quả phải tham gia ngay từ đầu: cùng xác định bài toán, cung cấp dữ liệu, tạo môi trường thử nghiệm, phản hồi và tiếp nhận kết quả. Đại học tổ chức nhóm liên ngành để thiết kế lời giải; người dùng cuối giúp kiểm chứng; kết quả được đo lường, điều chỉnh rồi mới mở rộng. Chuyển giao khi đó không còn là một “bước cuối”, mà diễn ra trong suốt vòng đời của nhiệm vụ.
Các phòng thí nghiệm chính sách và thực tiễn có thể trở thành một cấu trúc quan trọng cho cách làm này. Đây không nhất thiết là một tòa nhà mới, mà là không gian hợp tác có quy tắc rõ ràng, nơi bài toán thật được đưa vào thử nghiệm, dữ liệu thật được sử dụng và tác động thật được đánh giá. Với khoa học xã hội, kinh tế, quản trị và chính sách công, đó chính là tương đương của phòng thí nghiệm trong các ngành kỹ thuật.
Một sai lầm phổ biến là kỳ vọng nhà khoa học vừa nghiên cứu xuất sắc, vừa hiểu thị trường, quản lý dự án, xử lý pháp lý, sở hữu trí tuệ, huy động vốn, tìm đối tác và tự đưa sản phẩm đi đến người sử dụng. Hành trình ấy quá dài để một cá nhân có thể gánh vác. Nếu thiếu hệ thống hỗ trợ chuyên nghiệp, nhiều kết quả tốt sẽ dừng lại trong phòng thí nghiệm hoặc hồ sơ nghiệm thu.
Đại học cần đội ngũ chuyên nghiệp về quản trị chương trình, chuyển giao công nghệ và tri thức, sở hữu trí tuệ, dữ liệu, pháp lý, tài chính và phát triển đối tác. Các đơn vị này không nên chỉ làm thủ tục, mà phải có năng lực kết nối nhu cầu với chuyên môn, thiết kế mô hình hợp tác, quản trị rủi ro và đồng hành đến khi kết quả được sử dụng.
Bên cạnh đó, các nhóm sứ mệnh liên ngành cần được trao đủ quyền để điều phối con người, kinh phí, dữ liệu, phòng thí nghiệm và quan hệ đối tác. Nếu mọi quyết định vẫn phải đi qua nhiều tầng phòng ban, tốc độ hành chính sẽ luôn chậm hơn tốc độ đổi mới. Cấu trúc mới không phải thêm một tầng quản lý, mà là tái phân bổ quyền hạn, nguồn lực và trách nhiệm quanh một bài toán cần giải quyết.
Tuy nhiên, gắn với thực tiễn không có nghĩa là đại học làm thay Nhà nước hay doanh nghiệp. Nhà nước xác định ưu tiên và tạo không gian chính sách; doanh nghiệp tổ chức sản xuất, chấp nhận rủi ro thị trường và mở rộng giải pháp; đại học tổ chức tri thức, đào tạo con người, thiết kế lời giải và đồng hành đến khi lời giải được kiểm chứng. Ranh giới rõ ràng giúp hợp tác sâu hơn mà không làm suy giảm vai trò đặc thù của mỗi bên.
Để đại học vượt khỏi tư duy đề tài và đưa tri thức vào thực tiễn, cần trao quyền tương xứng với nhiệm vụ phát triển mà họ đảm nhận. Nhà nước, địa phương và doanh nghiệp cần xác định rõ các bài toán cần giải quyết, lựa chọn đại học hoặc liên minh đại học đủ năng lực dẫn dắt, đồng thời cho phép họ chủ động tổ chức nhóm liên ngành, huy động chuyên gia, tiếp cận dữ liệu, phân bổ nguồn lực và thử nghiệm giải pháp trong khuôn khổ kiểm soát rõ ràng.
Quyền chủ động phải đi cùng trách nhiệm có thể kiểm chứng. Mỗi chương trình cần xác định cụ thể bài toán, người sử dụng kết quả, các mốc tiến độ, năng lực dự kiến hình thành và tiêu chí đánh giá tác động. Đại học không chỉ chịu trách nhiệm về việc hoàn thành đề tài, công bố hay bàn giao sản phẩm, mà phải được đánh giá bằng những thay đổi thực chất: công nghệ có tiếp tục được cải tiến, doanh nghiệp có vận hành hiệu quả hơn, chính sách có được thực thi tốt hơn và tri thức có tạo ra giá trị tích cực cho xã hội hay không.
Cơ chế tài trợ và nghiệm thu vì thế cũng phải chuyển từ kiểm soát đầu vào sang đánh giá toàn bộ chuỗi kết quả. Những giải pháp có triển vọng cần được tạo điều kiện thử nghiệm, có “người dùng đầu tiên” thông qua cơ chế đặt hàng, thí điểm hoặc mua sắm công đổi mới. Nguồn lực nên được phân bổ theo từng giai đoạn, gắn với kết quả trung gian và phản hồi từ thực tiễn, thay vì cấp một lần rồi chờ nghiệm thu cuối kỳ.
Việc đánh giá cũng không nên kết thúc khi sản phẩm được bàn giao. Kết quả cần tiếp tục được theo dõi sau dự án để xác định giải pháp có thực sự được sử dụng, bên tiếp nhận có đủ năng lực vận hành, cải tiến và mở rộng hay không. Chỉ khi tri thức tạo ra những thay đổi có thể duy trì và phát triển, hoạt động chuyển giao mới thực sự hoàn tất.
Đại học Việt Nam không thiếu khát vọng và cũng đã tạo ra những thành quả nghiên cứu nhất định. Điều còn thiếu là một kiến trúc đủ mạnh để đưa những thành quả ấy đi trọn hành trình từ nghiên cứu đến thực tiễn. Sứ mệnh này không bắt đầu từ việc lập thêm một trung tâm hay ký thêm một thỏa thuận hợp tác, mà từ khả năng nhận diện bài toán, tổ chức lực lượng, được trao quyền thử nghiệm và chịu trách nhiệm bằng tác động, kết quả thực sự.
Phép thử lớn của đại học Việt Nam không chỉ nằm ở số lượng công bố quốc tế hay vị trí trên các bảng xếp hạng. Phép thử thực sự là khi đất nước cần làm chủ công nghệ hoặc tìm kiếm ý tưởng phát triển mới, doanh nghiệp cần mô hình quản trị hiệu quả, chính quyền cần chính sách khả thi, xã hội cần lời giải cho những thách thức mới, đại học có trở thành địa chỉ tri thức đáng tin cậy hay vẫn chỉ đứng bên lề để quan sát và phản biện.
(*) Viện Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Nội dung bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 37-2026 phát hành ngày 14/09/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-37-2026.html
Việt Nam đã ban hành nhiều chiến lược, chính sách về phát triển nguồn nhân lực, từ thu hút, trọng dụng nhân tài, phát triển đội ngũ trí thức đến đào tạo nhân lực cho những ngành, lĩnh vực mới nổi như AI và bán dẫn. Tuy nhiên, bài toán đặt ra hiện nay là làm thế nào kết nối những mảnh ghép này thành một hệ thống thống nhất, gắn với nhu cầu nhân lực thực tế của nền kinh tế và mục tiêu phát triển đến năm 2045...
Quy định đặc thù về bảo hiểm thất nghiệp tại Luật Việc làm năm 2025 và Nghị định 374/2025/NĐ-CP đã mở đường tháo gỡ điểm nghẽn “chốt sổ” bảo hiểm, kịp thời chi trả trợ cấp cho người lao động tại doanh nghiệp giải thể, phá sản…
Không chỉ chi trả trợ cấp, chính sách bảo hiểm thất nghiệp đang được triển khai theo hướng tăng tư vấn, giới thiệu việc làm và hỗ trợ đào tạo kỹ năng, giúp người lao động rút ngắn thời gian thất nghiệp và sớm trở lại thị trường lao động.
Bộ Giáo dục và Đào tạo dự kiến năm 2027 áp dụng 03 phương thức tuyển sinh đại học và từ năm 2028 giảm xuống 01 phương thức đăng ký xét tuyển vào từng ngành đào tạo, từng chương trình đào tạo...
Thay vì cách xác định phụ cấp gắn với hạng trường, phân loại cơ sở, Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất xác định phụ cấp theo vị trí việc làm, chức vụ quản lí tương ứng... nhằm cắt giảm triệt để gánh nặng thủ tục hành chính...
Nhân Ngày Quốc tế Bảo vệ tầng ô-dôn năm 2026 và kỷ niệm 10 năm Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thông qua, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức Chương trình tọa đàm “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn”. Tọa đàm được phát trực tuyến trên trên VnEconomy.vn và FanPage VnEconomy vào 9h ngày 14/9/2026...
Cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam (Bộ Tài chính) vừa yêu cầu tăng cường rà soát, chấn chỉnh hoạt động của các tổ chức phát triển đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện, Bảo hiểm y tế; quản lý chặt chẽ nguồn thu, phòng ngừa lạm dụng và trục lợi quỹ bảo hiểm gây ảnh hưởng tiêu cực đến quyền lợi của người dân.