
Trong số 48 dự án điện gió đã đăng ký triển khai, đến nay mới chỉ có 3 dự án đi vào hoạt động, còn lại hầu hết đang “bất động” hoặc nhà đầu tư bỏ cuộc.
Năm 2011, Chính phủ đã ban hành Quyết định 37/2011/QĐ-TTg về cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện gió tại Việt Nam. Theo quy hoạch này, tổng công suất nguồn điện gió sẽ đạt 1.000 MW vào năm 2020 (chiếm 0,7% tổng lượng điện cả nước) và 6.200 MW vào năm 2030.
Thế nhưng đến thời điểm hiện tại, mới có 3 dự án điện gió đã hoàn thành và đi vào hoạt động, với tổng công suất 52 MW. Hầu hết các dự án còn lại đều đang dừng lại ở mức “báo cáo đầu tư”. Tại nhiều dự án, chủ đầu tư đã bỏ đi...
Đây là thông tin được Phó tổng cục trưởng Tổng cục Năng lượng Lê Tuấn Phong đưa ra tại một hội thảo về cơ chế hỗ trợ phát triển điện gió ở Việt Nam, do Tổ chức Hợp tác phát triển Đức (GIZ) và Tổng cục Năng lượng tổ chức ngày 10/7.
Bị “chém gió” về điện gió
Nhằm xác định những nguyên nhân cản trở phát triển điện gió, GIZ đã hỗ trợ Bộ Công Thương tiến hành một nghiên cứu. Chuyên gia của GIZ cho biết, trong quá trình nghiên cứu đã thu thập thông tin cơ sở về các dự án điện gió tại Việt Nam từ các bên liên quan, đồng thời phân tích lại khung chính sách và giá mua điện gió.
Năm 2011, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) có trách nhiệm mua toàn bộ sản lượng điện từ các dự án điện gió với giá mua điện tại điểm giao nhận điện là 1.614 đồng/kWh (tương đương 7,8 UScent/kWh). Vào thời điểm đó, quyết định này là bước ngoặt quan trọng, tạo ra làn sóng ồ ạt xin đầu tư vào điện gió.
Chỉ sau đó một năm, có tới 48 dự án điện gió đã đăng ký, với tổng công suất đăng ký 4.876 MW.
Nhưng, như nghiên cứu của GIZ cho thấy, nhiều doanh nghiệp trong nước tham gia đầu tư vào điện gió vì nghĩ rằng làm điện gió vừa dễ vừa lãi nhanh, mà “không hề hiểu biết gì về gió”.
Trong khi đó, các doanh nghiệp nước ngoài khi có ý định đầu tư vào điện gió tại Việt Nam, thì thường được các nhà tư vấn “nói quá lên” về tiềm năng gió cũng như triển vọng của dự án. Tuy nhiên, sau khi đo gió thực tế tại vùng triển khai dự án thì chế độ gió lại không đạt, nên nhà đầu tư bỏ đi.
Vào năm 2001, Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) và Ngân hàng Thế giới (WB) từng công bố một nghiên cứu cho rằng, Việt Nam có tiềm năng phát triển điện gió rất lớn, tương đương 513.360 MW, tức là gấp hơn 200 lần công suất nhà máy thủy điện Sơn La, và hơn 10 lần tổng công suất dự báo của ngành điện năm 2020.
Đó chính là nguyên nhân khiến các doanh nghiệp cả nước ngoài lẫn trong nước từng “sốt nóng” với điện gió tại Việt Nam. Thế nhưng, sau quá trình khảo sát, mới biết thực tế tiềm năng điện gió của Việt Nam chỉ bằng chưa tới 2% so với dự tính của WB, và không phải vùng nào cũng xây được nhà máy điện gió.
Nhà đầu tư lỗ nặng
Nghiên cứu tại 3 dự án điện gió đang hoạt động cho thấy, chi phí xây dựng trung bình là 2 triệu USD cho 1 MW điện gió và chi phí vận hành hàng năm là 35.000 USD cho 1 MW điện gió. Như vậy, với giá bán cho EVN hiện nay là 7,8 UScent/kWh, tuy cao hơn so với giá điện tới tay người tiêu dùng, nhưng các nhà đầu tư điện gió vẫn lỗ nặng.
Nghiên cứu của GIZ cũng chỉ ra rằng, hướng đi chưa đúng trong chiến lược phát triển điện gió tại Việt Nam là ưu tiên xây các nhà máy điện gió trên các vùng biển ven bờ. Xây trên biển thì không mất phí sử dụng đất, nhưng chi phí xây dựng cột điện gió từ dưới nước lên cao gấp nhiều lần. Bởi vậy, thực tế điện gió trên bờ sẽ thuận tiện hơn nhờ có cơ sở hạ tầng, nên chi phí sẽ rẻ hơn.
GIZ kiến nghị, thay vì miễn tiền thuê mặt biển cho các nhà đầu tư điện gió theo chính sách hiện hành, nên ưu tiên cấp đất và miễn tiền thuê đất trên bờ ven biển cho các nhà đầu tư điện gió. Nhà nước cũng cần có cơ chế hỗ trợ vay vốn hoặc bảo lãnh cho các doanh nghiệp vay vốn xây dựng điện gió.
Theo tính toán, để đạt được 1 GW điện gió đến năm 2020, thì cần tổng mức đầu tư khoảng 2,1 tỷ USD trong 6 năm. Với mức vốn vay trung bình chiếm 70%, tổng mức đầu tư này sẽ được chia thành: 630 triệu USD vốn chủ sở hữu và 1,47 tỷ USD vốn vay nợ. Bộ Tài chính cũng cần miễn thuế nhập khẩu tua bin, khi mức thuế hiện tại là 10% đã đẩy giá thành xây dựng lên cao.
Về giá bán điện gió cho EVN, GIZ kiến nghị nâng giá lên 10,4 UScent/1 kWh.
Tại cuộc hội kiến Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia, Chủ tịch Thượng viện Hun Sen, Thủ tướng Lê Minh Hưng và Chủ tịch Hun Sen nhất trí thúc đẩy gắn kết kinh tế, phát triển hạ tầng biên giới, gia tăng đầu tư của Việt Nam vào Campuchia; đồng thời tháo gỡ khó khăn, tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư giữa hai nước.
Tại cuộc hội đàm ngày 9/10 ở Phnom Penh, Thủ tướng Lê Minh Hưng và Thủ tướng Campuchia Hun Manet nhất trí tăng cường kết nối hai nền kinh tế, thúc đẩy đầu tư, phát triển chuỗi giá trị công nghiệp và nông sản xuyên biên giới, phấn đấu nâng kim ngạch thương mại song phương lên 20 tỷ USD trong thời gian tới.
Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh yêu cầu tăng quy mô đầu tư, kết nối hạ tầng, logistics và đơn giản hóa thủ tục, hướng tới mục tiêu sớm đưa thương mại Việt Nam - Campuchia đạt 20 tỷ USD, đồng thời phát triển các chuỗi giá trị chung có sức cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế.
Tại cuộc hội kiến Chủ tịch Quốc hội Campuchia Khuon Sudary, Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh việc thúc đẩy hợp tác kinh tế thực chất, tăng cường kết nối hạ tầng, logistics, thương mại biên giới và phát triển các chuỗi giá trị công nghiệp, nông sản xuyên biên giới.
Chiều 9/10, tại Cung Hòa Bình ở Thủ đô Phnom Penh, Thủ tướng Chính phủ Hoàng gia Campuchia Hun Manet chủ trì lễ đón chính thức Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam, mở đầu các hoạt động trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Campuchia từ ngày 9-10/10/2026.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Bà Mariam J. Sherman, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Campuchia và CHDCND Lào, cho rằng cần xây dựng chính sách hướng tới nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư, giúp giảm chi phí vay không chỉ cho Nhà nước mà cả những doanh nghiệp Việt Nam chịu ảnh hưởng từ xếp hạng tín nhiệm quốc gia.