Tại Lễ kỷ niệm 35 năm thành lập Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA), các nhận định cho rằng ngành nhựa đã trở thành một trong những ngành công nghiệp quan trọng của nền kinh tế, với quy mô ước tính đạt khoảng 32 tỷ USD vào năm 2024, ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng 24% so với năm 2023. Ngành đóng góp đáng kể vào GDP, với sự tham gia của gần 5.000 doanh nghiệp, tạo ra hàng trăm nghìn việc làm và xuất khẩu sản phẩm tới hơn 190 quốc gia trên thế giới.
35 NĂM PHÁT TRIỂN VÀ BÀI TOÁN QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC
Nhìn lại chặng đường 35 năm, ngành nhựa Việt Nam sở hữu một cấu trúc đặc trưng: phân mảnh nhưng năng động, chủ yếu dựa vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngành được chia thành bốn nhóm chính: nhựa bao bì (chiếm 35–40% thị phần), nhựa gia dụng (25–30%), nhựa kỹ thuật (20–25%), và nhựa vật liệu xây dựng (10–15%). Tính linh hoạt cao của các doanh nghiệp đã giúp ngành thích ứng nhanh với nhu cầu thị trường nội địa và xuất khẩu gia công (OEM), đặc biệt là trong lĩnh vực bao bì và linh kiện nhựa.
Tuy nhiên, thách thức về năng lực cạnh tranh vẫn còn hiện hữu. GS. TS Vũ Minh Khương - Giáo sư thực hành về Chiến lược Phát triển Kinh tế và Phân tích Chính sách - Trường Chính sách công Lý Quang Diệu – Đại học Quốc gia Singapore dẫn dữ liệu năm 2023, cho thấy năng suất lao động của ngành nhựa Việt Nam chỉ đạt 12.736 USD/lao động, thấp hơn so với mức trung bình của toàn ngành công nghiệp chế tạo Việt Nam (14.642 USD/lao động). So sánh với Hàn Quốc – một cường quốc công nghiệp, năng suất lao động ngành nhựa Việt Nam chỉ bằng khoảng 1/8,5 (Hàn Quốc đạt 107.990 USD/lao động).
Thậm chí, năng suất lao động trong ngành nhựa Việt Nam còn thấp hơn 30–40% so với mức trung bình của nhóm ASEAN-5. Dấu hiệu tích cực là thu nhập bình quân của người lao động ngành nhựa lại cao hơn một chút so với toàn ngành chế tạo, và đã tăng hơn 5 lần từ năm 2006 đến 2023. Song, tỷ trọng tiền lương cao trong năng suất lao động (thường xuyên vượt 40%) lại là chỉ báo cho thấy nỗ lực đầu tư vào công nghệ và máy móc thiết bị để tăng tự động hóa còn hạn chế.
Bài toán quản trị chiến lược còn nằm ở sự phụ thuộc lớn vào chuỗi cung ứng quốc tế theo mô hình "nhập đầu vào – xuất sản phẩm hoàn chỉnh". Khoảng 80–85% hạt nhựa nguyên sinh phải nhập khẩu, chủ yếu từ Trung Đông, Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore, khiến ngành dễ bị tổn thương trước biến động giá dầu và tỷ giá.
Cán cân thương mại năm 2023 cho thấy ngành nhựa Việt Nam xuất khẩu 7,58 tỷ USD nhưng nhập khẩu lên tới 13,8 tỷ USD. Xét rộng hơn trong hệ sinh thái sản phẩm nhựa năm 2024, dù xuất khẩu đạt 58,7 tỷ USD (thặng dư thương mại 33 tỷ USD), ngành lại phụ thuộc quá sâu vào thị trường Hoa Kỳ (chiếm 39% kim ngạch xuất khẩu) và vào Trung Quốc (chiếm 60% kim ngạch nhập khẩu hạt nhựa, khuôn, máy ép).
TÁI CẤU TRÚC MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG, VƯƠN LÊN TRONG KỶ NGUYÊN 5.0
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và yêu cầu ngày càng khắt khe về môi trường, tiêu chuẩn xanh và hội nhập quốc tế, những quy định quốc tế và trong nước như Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), thiết kế sinh thái (eco-design), truy xuất nguồn gốc, tính toán vòng đời sản phẩm, và các tiêu chuẩn ESG (Môi trường – Xã hội – Quản trị) đang trở thành yêu cầu bắt buộc.
GS.TS Vũ Minh Khương đề xuất lộ trình bứt phá cho ngành nhựa Việt Nam, trong đó số hóa, tự động hóa là động lực chính, hợp tác công - tư là phương thức triển khai, còn kinh tế tuần hoàn là khung vận hành hướng tới phát triển bền vững và nâng cao vị thế cạnh tranh của ngành trong khu vực và toàn cầu.
Trong giai đoạn tới, ngành đã xác định các định hướng trọng tâm mang tính chiến lược. Đó là tăng trưởng bền vững theo chiều sâu thông qua đổi mới công nghệ, tự động hóa, số hóa và tiêu chuẩn hóa dữ liệu môi trường, lấy chất lượng và hiệu quả làm thước đo cạnh tranh.
Chuyển dịch cơ cấu sản phẩm theo hướng giá trị và công nghệ cao, từ “sản phẩm nhựa khối lượng lớn” sang “ngành sử dụng nhựa giá trị cao”. Mục tiêu là tỷ trọng sản phẩm công nghệ từ cấp 3–5 chiếm hơn 55% kim ngạch xuất khẩu.
Đồng thời đẩy mạnh kinh tế tuần hoàn, nâng cao tỷ lệ tái chế, phát triển vật liệu thân thiện môi trường. Với tỷ lệ tái chế hiện tại chỉ khoảng 20-25%, tiềm năng phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn là rất lớn. Mục tiêu lớn là xây dựng “Chiến lược ngành nhựa tuần hoàn 2045” gắn với tăng trưởng xanh và tự chủ công nghệ.
Bên cạnh đó, tăng cường nghiên cứu và phát triển (R&D) và làm chủ công nghệ. Hợp tác chặt chẽ giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học để làm chủ công nghệ. Hội nhập và mở rộng thị trường xuất khẩu, đa dạng hóa đối tác thương mại để giảm thiểu rủi ro từ sự phụ thuộc kép. Tầm nhìn chiến lược cho ngành nhựa là phát triển cụm công nghiệp nhựa tái chế và polymer kỹ thuật cao, hướng tới vai trò trung tâm vật liệu xanh của ASEAN.
Để hiện thực hóa những chiến lược trên, bà Huỳnh Thị Mỹ, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký VPA kêu gọi cộng đồng doanh nghiệp chuyển dịch mô hình tăng trưởng từ phát triển số lượng sang nâng cao chất lượng, đầu tư bài bản vào thiết kế sinh thái, nâng chuẩn chất lượng và nâng cao năng lực đáp ứng các cam kết môi trường, nhằm đón đầu xu thế tiêu dùng xanh ngày càng phát triển.
Trong hành trình này, sự đồng hành của Chính phủ và chính quyền địa phương là then chốt. Ông Phạm Văn Quân, Phó cục trưởng Cục công nghiệp (Bộ Công Thương), khuyến khích các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp đầu ngành, tăng cường đầu tư vào công nghệ sạch, vật liệu thân thiện môi trường, và đổi mới sáng tạo trong sản xuất, nhằm giảm thiểu rác thải nhựa, hướng đến chuỗi giá trị xanh – tuần hoàn – bền vững.
Về phía TP. Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Văn Thọ, Phó Chủ tịch thường trực UBND cam kết tiếp tục tạo mọi điều kiện thuận lợi, hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng đầu tư, đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Thành phố cũng sẽ nghiên cứu, hỗ trợ đẩy mạnh liên kết giữa ngành nhựa và các ngành công nghiệp hỗ trợ – đặc biệt là cơ khí chính xác, khuôn mẫu và tự động hóa – để hình thành chuỗi sản xuất hoàn chỉnh, đúng với tinh thần phát triển công nghiệp nền tảng và công nghiệp hỗ trợ quốc gia.
Sau thời gian triển khai liên tục trong điều kiện thời tiết không thuận lợi, chiến dịch bảo dưỡng tổng thể (BDTT) Nhà máy Đạm Cà Mau năm 2026 đã hoàn thành an toàn, bảo đảm chất lượng và tiến độ đề ra. Nhà máy chính thức trở lại vận hành và bắt đầu có sản phẩm trở lại từ 2:00 ngày 7/10/2026.
Theo tính toán của SNMO, sản lượng điện toàn quốc quý 4/2026 dự kiến đạt 88,97 tỷ kWh, tăng 11,3% so với cùng kỳ. Để bảo đảm nguồn cung, EVN tập trung đưa hai tổ máy Nhiệt điện Quảng Trạch I vào vận hành thương mại, đồng thời đẩy nhanh tiến độ các công trình nguồn và lưới điện trọng điểm…
Trong bối cảnh Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) và các yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế, cà phê Tây Bắc không chỉ cần chứng minh sản phẩm được trồng ở đâu mà còn phải trả lời được câu hỏi sản xuất như thế nào, có phù hợp với điều kiện tự nhiên hay không và tạo ra giá trị gì...
Dù vào mùa nước đổ hay mùa lúa chín, cảnh quan ruộng bậc thang đều có những sắc thái riêng, gắn với nghề truyền thống, ẩm thực và đời sống cộng đồng. Đây cũng là cơ sở để xây dựng các sản phẩm theo mùa thay vì chỉ khai thác một thời điểm cố định trong năm...
Theo Báo cáo Cập nhật Kinh tế khu vực Đông Á và Thái Bình Dương (EAP) công bố ngày 6/10 của Ngân hàng Thế giới (World Bank-WB), kinh tế khu vực này dự kiến tăng trưởng 4,5% trong năm 2026. Trong đó, Việt Nam nổi lên như một điểm sáng khi được WB nâng dự báo tăng trưởng lên mức 7,4%, tăng 1,1 điểm phần trăm so với dự báo trước đó…
Việt Nam đã vươn lên thành một trong những “cường quốc xuất khẩu” trên thế giới. Tuy nhiên, đằng sau kim ngạch hàng trăm tỷ USD và những dòng hàng hóa đã đi khắp các thị trường, thương hiệu Việt vẫn đang đối mặt với bài toán định vị và nâng cao giá trị trên bản đồ toàn cầu.
Tăng trưởng nhanh sẽ kéo theo những thay đổi lớn. Nếu người dân không được lắng nghe, doanh nghiệp thiếu niềm tin và các nhóm chịu tác động không được hỗ trợ thích đáng, chi phí xã hội của quá trình cải cách sẽ tăng lên.