Theo báo cáo mới của Viện Nghiên cứu Capgemini (Capgemini Research Institute), các doanh nghiệp châu Âu và Mỹ đang đẩy nhanh chiến lược tái công nghiệp hóa.
Trong báo cáo này, tái công nghiệp hóa được hiểu là quá trình doanh nghiệp sắp xếp lại mạng lưới sản xuất và chuỗi cung ứng toàn cầu, nhằm đưa hoạt động sản xuất đến gần thị trường tiêu thụ hơn và giảm phụ thuộc vào các nguồn cung dễ bị gián đoạn.
Báo cáo cho thấy 73% doanh nghiệp châu Âu và Mỹ đã có chiến lược tái công nghiệp hóa, tăng so với mức 59% vào năm 2024. Tại Tây Ban Nha, tỷ lệ này đạt 76%, cao hơn nhiều so với mức 45% cách đây hai năm.
Dù số doanh nghiệp tham gia xu hướng này tăng lên, tổng vốn đầu tư dự kiến cho 3 năm tới lại giảm mạnh, từ 4,7 nghìn tỷ USD của năm 2025 xuống còn 2,5 nghìn tỷ USD.
Theo Capgemini, điều này không có nghĩa doanh nghiệp đang rút khỏi quá trình tái công nghiệp hóa. Thay vào đó, họ đang làm theo cách thận trọng hơn: chọn lọc dự án kỹ hơn, ưu tiên công nghệ và hạn chế các khoản đầu tư quá lớn vào nhà máy hoặc tài sản cố định.
Sự thay đổi này cho thấy doanh nghiệp đang đặt an toàn chuỗi cung ứng lên hàng đầu. Có 86% doanh nghiệp được khảo sát cho biết họ ưu tiên khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng hơn lợi nhuận ngắn hạn. Để đưa sản xuất về gần thị trường tiêu thụ mà vẫn kiểm soát chi phí, 87% doanh nghiệp dự định đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI), tự động hóa và các công cụ số giúp mô phỏng, điều chỉnh và tối ưu hóa sản xuất.
“Đây không phải dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp rút lui khỏi xu hướng tái công nghiệp hóa. Thay vào đó, họ đang điều chỉnh cách tiếp cận, ưu tiên các mô hình sản xuất chọn lọc hơn, linh hoạt hơn và ít thâm dụng vốn hơn”, báo cáo của Capgemini chỉ ra.
Báo cáo cho thấy doanh nghiệp không chọn một hướng đi duy nhất. Thay vào đó, họ kết hợp nhiều cách: đưa một phần sản xuất trở lại trong nước, chuyển một phần sang các quốc gia gần thị trường tiêu thụ hơn, hoặc đặt sản xuất tại những nước đồng minh và đối tác đáng tin cậy.
Điều này cho thấy tái công nghiệp hóa hiện không có nghĩa là doanh nghiệp quay lưng với toàn cầu hóa. Mục tiêu chính là phân tán rủi ro, giảm phụ thuộc quá lớn vào một số trung tâm sản xuất và giúp chuỗi cung ứng ít dễ bị gián đoạn hơn.
Mỹ và châu Âu đang theo đuổi hai cách khác nhau để tái công nghiệp hóa. Với Mỹ, trọng tâm là reshoring - tức đưa nhà máy và hoạt động sản xuất quay trở lại lãnh thổ Mỹ, nhằm giảm phụ thuộc vào chuỗi cung ứng ở nước ngoài. Theo khảo sát, gần 48% doanh nghiệp Mỹ cho biết đã đầu tư vào reshoring trong năm 2026, tăng từ 30% năm 2025.
Trong khi đó, châu Âu nghiêng nhiều hơn về friendshoring - tức không nhất thiết đưa sản xuất trở lại nội địa, mà chuyển một phần chuỗi cung ứng sang các quốc gia đồng minh hoặc đối tác có quan hệ chính trị và thương mại ổn định. Khảo sát cho thấy 64% doanh nghiệp châu Âu đang áp dụng friendshoring. Nguyên nhân là chi phí năng lượng cao, chi phí lao động lớn, tăng trưởng năng suất khiêm tốn và môi trường quy định phân mảnh khiến việc đưa toàn bộ sản xuất về nội địa kém hấp dẫn hơn.
Cách tiếp cận này giúp doanh nghiệp châu Âu giảm rủi ro địa chính trị, đồng thời kiểm soát chi phí tốt hơn so với việc đưa toàn bộ hoạt động sản xuất trở lại châu Âu. Trong xu hướng đó, Ấn Độ, Việt Nam, Mexico và Canada đang nổi lên như những điểm đến thay thế Trung Quốc.
Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn là một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. 64% doanh nghiệp gồm cả châu Âu và Mỹ cho biết sẽ duy trì hoặc tăng đầu tư tại Trung Quốc trong 3 năm tới. Ngoài ra, hơn một nửa số doanh nghiệp được khảo sát nói rằng họ chưa có kế hoạch rời hoàn toàn thị trường này. Điều đó cho thấy các doanh nghiệp chủ yếu muốn tái cân bằng chuỗi cung ứng, thay vì rút khỏi Trung Quốc.
Giá điện tại châu Âu tăng đặc biệt mạnh vào buổi tối. Tại Đức, giá điện tuần trước đã tăng từ 86 euro/MWh vào giữa trưa lên 566 euro/MWh lúc 20h...
Thị trường chứng khoán Mỹ tăng điểm trong phiên giao dịch ngày thứ Ba (30/6) nhờ cổ phiếu chip được mua mạnh trở lại, theo đó hoàn tất quý 2 và nửa đầu năm với thành quả tăng ấn tượng...
Sau khi chính thức được phê duyệt mở rộng vào tháng 3/2025, đến năm 2026, thị trường carbon quốc gia Trung Quốc đã vận hành với 4 ngành (điện, thép, xi măng, nhôm), kiểm soát 80 tỷ tấn CO₂, chiếm hơn 60% tổng phát thải quốc gia. Đây là bước ngoặt lịch sử, đưa Trung Quốc trở thành quốc gia có thị trường carbon lớn nhất thế giới về lượng phát thải được quản lý...
Phạm vi dao động lên tới 120 USD/oz cho thấy tâm trạng bấp bênh của nhà đầu tư trước khi Bộ Lao động Mỹ công bố báo cáo việc làm phi nông nghiệp tháng 6...
Dù vẫn chịu sức ép từ cú sốc năng lượng và gián đoạn chuỗi cung ứng qua eo biển Hormuz, Trung Quốc nhìn chung tránh được tình trạng lạm phát tăng vọt cũng như các hệ lụy kinh tế, chính trị dây chuyền mà nhiều nước khác đang đối mặt...
Ngày 22/6/2026, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội đã đồng loạt khởi công 5 tuyến đường sắt đô thị (metro) với tổng chiều dài khoảng 303,5 km và tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 1.315.256 tỷ đồng, đặt mục tiêu cơ bản hoàn thành vào năm 2030.
Sàn giao dịch carbon trong nước chính thức được khai trương sáng ngày 29/6/2026 tại trụ sở Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội. Sự kiện đánh dấu bước tiến quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển thị trường carbon tại Việt Nam.