Ngân hàng thừa vốn cho vay, nhưng nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện vẫn không vay được.
Khi cung cầu không c
ó
tiếng nói chung
Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta chiếm 97% trong tổng số gần 300.000 doanh nghiệp, đóng góp khoảng 26% GDP, tạo ra khoảng 77% việc làm phi nông nghiệp. Có vai trò như vậy, nhưng hiện các doanh nghiệp đang gặp rất nhiều khó khăn trong vay vốn sản xuất - kinh doanh.
Theo kết quả điều tra của Cục Phát triển doanh nghiệp (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), hiện có đến 80% lượng vốn cung ứng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa là từ kênh ngân hàng.Tuy nhiên, chỉ có 32,38% những doanh nghiệp này có khả năng tiếp cận được nguồn vốn của các ngân hàng; 35,24% khó tiếp cận và 32,38% không tiếp cận được.
Theo
ô
ng Cao Sĩ Kiêm - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam,
ở
nước ta, một doanh nghiệp ra đời thường có vốn điều lệ rất ít, chủ yếu là vay vốn để sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, thủ tục vay ngân hàng còn khá rườm rà và nhiều doanh nghiệp đã không đủ điều kiện vay.
Tuy nhiên, phía ngân hàng lại có quan điểm khác. Ông Trần Đạo Vũ - Giám đốc Ngân hàng Đông Á, Chi nhánh Hà Nội cho rằng, các doanh nghiệp nhỏ và vừa khó tiếp cận với nguồn vốn của các ngân hàng là do "còn hạn chế về nguồn lực con người, tài chính và khả năng lập dự án”.
Ông n
ói
: “Chúng tôi luôn gặp khó khăn trong quá trình thẩm định các dự án cho vay đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở vấn đề lựa chọn công nghệ phù hợp. Các doanh nghiệp thường có quy mô nhỏ cả về mặt tài chính, mặt bằng sản xuất, trình độ nhân lực… nhưng khi lập dự án đều đưa vào các loại thiết bị, máy móc rất đắt tiền, trong khi họ có thể lựa chọn các loại máy móc với công nghệ tương tự, giá thành rẻ hơn để đảm tính hiệu quả của dự án".
Giám đốc một ngân hàng thương mại nhà nước lại cho rằng, doanh nghiệp nhỏ và vừa thường xây dựng báo cáo tài chính mang tính chất đối phó với cơ quan thuế. Báo cáo chính thức thường thấp hơn tình trạng thực tế, nên không đảm bảo đủ điều kiện vay vốn ngân hàng.
Đấy là chưa kể họ thường bán hàng không có hợp đồng kinh tế, không tuân thủ chế độ phát hành hóa đơn bán hàng. Do đó, ngân hàng khó có cơ sở để đánh giá và quyết định việc cho vay.
Ngoài ra, những vướng mắc mà ngân hàng thường gặp khi cho đối tượng các doanh nghiệp này vay là vốn kinh doanh của doanh nghiệp quá ít, dẫn đến vốn tự có tham gia vào dự án ít, rủi ro cho ngân hàng khi đầu tư là rất lớn.
Làm gì để hiểu nhau?
Theo ông Cao Sĩ Kiêm, để giải quyết được vấn đề tiếp c
ậ
n vốn tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần có sự phối hợp giữa ba phía: nhà nước, doanh nghiệp và ngân hàng.
Về quản lý nhà nước, ông Kiêm cho rằng, cần có cơ chế, chính sách đối với việc vay vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa, càng cụ thể càng tốt.
Ví dụ, chủ trương là cho doanh nghiệp vay, nhưng phải làm rõ cho vay như thế nào (đối tượng, mặt hàng, cơ chế thế chấp, tín chấp…). Trên cơ sở đó, các ngân hàng thương mại sẽ đổi mới cung cách cho vay.
Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng cần tham gia cùng doanh nghiệp từ khâu làm dự án, giám sát thực hiện, thậm chí phải hướng dẫn, đào tạo cho doanh nghiệp, bởi rất nhiều doanh nghiệp đủ điều kiện nhưng không biết cách làm.
Về phía các doanh nghiệp cũng cần phải có nỗ lực hơn nữa để nâng cao năng lực, chủ động trong việc xây dựng dự án, phương thức đầu tư phù hợp với năng lực về vốn, công nghệ và con người. Đăc biệt là cần phải minh bạch vấn đề tài chính.
Kinh nghiệp của một số doanh nghiệp đã vay vốn thành công cho thấy, trước hết họ cần phải thuyết phục được ngân hàng về mặt hiệu quả của phương án một cách rõ ràng như: khó khăn và thuận lợi của dự án, chi phí ban đầu, doanh thu, kế hoạch trả nợ…
Khi thanh toán QR xuyên biên giới ngày càng mở rộng, bài toán không còn dừng ở việc kết nối thêm bao nhiêu quốc gia mà ở khả năng biến một thao tác quét mã đơn giản thành sức mua, doanh thu cho doanh nghiệp và dòng tiền minh bạch cho nền kinh tế. Muốn vậy, hệ sinh thái cần chuyển từ “kết nối được” sang “sử dụng được và sử dụng hiệu quả”.
Đại diện cơ quan quản lý và thành viên thị trường đề xuất thí điểm mô hình xã hội hóa, đưa thanh toán QR xuyên biên giới vào các khu vực tập trung đông du khách quốc tế như phố đi bộ, phố ẩm thực, chợ đêm, làng nghề và khu kinh tế đêm. Từ đó, hình thành các “tuyến phố thanh toán số” thông suốt, liền mạch, thúc đẩy chi tiêu của du khách nước ngoài...
Một thao tác quét mã QR kéo theo cả chuỗi xử lý giữa người dùng, điểm bán, ngân hàng, trung gian thanh toán và các nền tảng công nghệ, đặc biệt khi giao dịch vượt qua biên giới. Điều này mở ra những rủi ro về gian lận, an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân, đòi hỏi kiểm soát chặt chẽ từ toàn bộ hệ thống…
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã cảnh báo hơn 5,1 triệu lượt khách hàng; gần 1,7 triệu lượt đã tạm dừng hoặc hủy giao dịch sau cảnh báo, với tổng giá trị trên 5,7 nghìn tỷ đồng.
Từ sân bay, khách sạn, nhà hàng đến các điểm mua sắm, thanh toán QR xuyên biên giới đang mở rộng thêm những điểm chạm trong hành trình của du khách quốc tế. Khi người dùng có thể thanh toán bằng ứng dụng quen thuộc, các điểm bán trong nước có thêm cơ hội tiếp cận và giữ lại dòng chi tiêu từ thị trường khách quốc tế…
Việt Nam chiếm 3,6% năng lực sản xuất thiết bị và linh kiện điện tử toàn cầu, đứng thứ sáu thế giới. Trung Quốc dẫn đầu với 58,8%, cao hơn tổng tỷ trọng của tất cả nền kinh tế còn lại trong bảng xếp hạng...
Chuỗi cung ứng toàn cầu đang dịch chuyển, Việt Nam có lợi thế về sản xuất, logistics và mạng lưới các hiệp định thương mại FTA dày đặc. Tuy nhiên, để biến sự quan tâm của khách hàng quốc tế thành hợp đồng thực tế, thành “đơn hàng… là bài toán không hề đơn giản.