Doanh nghiệp Việt cần có chiến lược thích ứng xu hướng định giá carbon
PPGS.TS. Bùi Thị Mai Hoài*
Chọn cỡ chữ
Chính sách định giá carbon giúp các doanh nghiệp không chỉ tối ưu hóa chi phí mà còn đáp ứng được kỳ vọng, nhu cầu về môi trường của khách hàng và nhà đầu tư… Doanh nghiệp có chiến lược thích ứng sớm, tiếp cận chính sách định giá carbon một cách chủ động sẽ mang lại nhiều giá trị.
Doanh nghiệp Việt cần có chiến lược thích ứng xu hướng định giá carbon - Ảnh minh họa.
Định giá carbon (carbon pricing) đã được thực hiện như một công cụ chính sách quan trọng để giảm thiểu biến đổi khí hậu ở nhiều quốc gia. Thuế carbon đầu tiên được Phần Lan áp dụng vào năm 1990. Tính đến tháng 5/2020, đã có 82 sáng kiến về thuế carbon trên 48 quốc gia trên toàn cầu.
Không dừng lại ở chính sách đơn lẻ của từng quốc gia, Liên minh châu Âu (EU) bắt đầu thực hiện đánh thuế carbon từ năm 2005. Tiếp theo, Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) đã được thí điểm áp dụng từ ngày 1/10/2023 và sẽ thực hiện đầy đủ từ năm 2026. Cơ chế này sẽ áp thuế carbon đối với các hàng hóa thuộc diện điều chỉnh khi xuất khẩu vào thị trường EU, dựa trên mức độ phát thải khí nhà kính trong quy trình sản xuất.
XU HƯỚNG “XANH” TOÀN CẦU
Trước mắt, CBAM áp dụng đối với 6 ngành: gang và thép; nhôm; xi măng; phân bón; điện và hydrogen. Nếu hệ thống định giá carbon trong nước được triển khai với mức phát thải của các ngành giữ nguyên như hiện tại, thì chỉ riêng CBAM của châu Âu đã có thể ảnh hưởng tiêu cực đến GDP của Việt Nam lên đến 6,4 tỷ USD vào năm 2030 và đến 11,1 tỷ USD vào năm 2035 (theo ước tính của Bộ Công Thương, năm 2024).
Là một trong những thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, nếu EU mở rộng danh sách mặt hàng thuộc diện điều chỉnh thì mức ảnh hưởng sẽ cao hơn nhiều.
Tại Việt Nam, Nghị định số 06/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozon cũng đã quy định cụ thể về lộ trình phát triển, thời điểm triển khai thị trường carbon trong nước.
Việt Nam đứng thứ 21 trên thế giới về phát thải carbon. Theo đánh giá của các chuyên gia, Việt Nam không thể đứng ngoài xu hướng “Xanh” trong bối cảnh định giá carbon đã trở thành chính sách toàn cầu. Do đó, các doanh nghiệp cần phải lưu tâm đến tác động của chính sách định giá carbon lên hoạt động kinh doanh và cần có chiến lược thích ứng phù hợp.
Hiện có nhiều hình thức định giá carbon, trong đó có hai hình thức phổ biến mà các quốc gia hay lựa chọn.
Một là, thuế carbon. Chính sách này đặt ra mức giá trực tiếp cho lượng phát thải khí nhà kính và yêu cầu các chủ thể kinh tế phải trả tiền cho mỗi tấn carbon thải ra. do đó, tạo ra động lực tài chính để các doanh nghiệp giảm lượng khí thải bằng cách chuyển sang các quy trình hiệu quả hơn hoặc nhiên liệu sạch hơn để tối ưu hóa chi phí thuế.
Hai là, hệ thống giao dịch phát thải (ETS), còn được gọi là hệ thống mua bán phát thải, đặt ra giới hạn đối với tổng lượng phát thải khí nhà kính trực tiếp từ các lĩnh vực cụ thể và thiết lập một thị trường nơi các quyền phát thải (dưới hình thức giấy phép) được giao dịch. Cách tiếp cận này cho phép người gây ô nhiễm đạt được mục tiêu giảm phát thải một cách linh hoạt và với chi phí tối ưu nhất.
CHIẾN LƯỢC THÍCH ỨNG CHO DOANH NGHIỆP
Với hai hình thức định giá carbon phổ biến nêu trên, có ba chiến lược thích ứng các công ty có thể lựa chọn.
Thứ nhất, các doanh nghiệp có thể điều chỉnh quy mô sản xuất, điều này đồng nghĩa điều chỉnh tổng lượng khí thải carbon của họ một cách trực tiếp.
Thứ hai, các công ty có thể tham gia đầu tư xanh nhằm mục đích làm cho các quy trình công nghiệp trở nên sạch hơn.
Thứ ba, với hệ thống mua bán khí thải, các doanh nghiệp có thể quản lý và mua bán tín chỉ carbon một cách tối ưu.
Do sự linh hoạt trong lựa chọn chiến lược thích ứng như trên, lượng phát thải ròng của các công ty thay đổi theo thời gian và phụ thuộc vào những lựa chọn mà họ đưa ra.
Ngoài ra, thuế carbon là một chi phí mới được tính vào chi phí hoạt động. Do vậy, cùng với việc quản lý tuân thủ, doanh nghiệp cần theo sát các thay đổi chính sách định giá carbon của các quốc gia và khu vực liên quan đến hoạt động của mình để đánh giá thuế carbon sẽ tác động như thế nào đến mức giá cuối cùng của các sản phẩm, dịch vụ mà mình cung ứng, từ đó có chiến lược ứng phó phù hợp.
Tuy nhiên, thuế carbon có thể khó theo dõi. Chẳng hạn, với Thỏa thuận Xanh châu Âu, EU cho phép từng quốc gia thành viên lựa chọn cách áp dụng thuế carbon và các biện pháp giám sát riêng.
Số liệu từ năm 2019 cho thấy trong khi thuế carbon của Na Uy bao gồm 60% tổng lượng khí thải nhà kính của cả nước thì Tây Ban Nha chỉ đánh thuế 3% lượng khí thải do phạm vi thuế hạn chế.
Để có sự chủ động hơn, doanh nghiệp cần phải dự đoán chính sách định giá carbon và tích hợp ngay từ đầu vào tất cả quy trình kinh doanh. Kinh nghiệm cho thấy các công ty nên bắt đầu bằng cách tích hợp theo chiều dọc chuỗi cung ứng của mình, xem xét mọi thứ từ nguồn cung ứng, chế biến, sản xuất đến bán hàng và hậu cần. Như vậy, việc đánh giá vòng đời sản phẩm trở nên hết sức cần thiết.
Cũng cần nhấn mạnh, chính sách định giá carbon đang thay đổi nhanh chóng không hẳn là một mối đe dọa. Nhiều doanh nghiệp nhìn thấy giá trị của việc đầu tư vào chuỗi cung ứng có cường độ carbon thấp hơn và công nghệ sạch hơn. Bên cạnh các giá trị vô hình, họ còn được hưởng lợi từ các khoản tín dụng thuế và trợ cấp do các chính phủ khuyến khích đầu tư vào công nghệ sạch.
THAY ĐỔI ĐỂ HƯỚNG ĐẾN CÁC GIÁ TRỊ DÀI HẠN, BỀN VỮNG
Trách nhiệm môi trường của doanh nghiệp đã trở thành nền tảng của chiến lược kinh doanh hiện đại. Doanh nghiệp đang chịu áp lực ngày càng tăng trong việc thể hiện cam kết đối với tính bền vững, không chỉ để đáp ứng các yêu cầu pháp lý mà còn phải phù hợp với sở thích của người tiêu dùng và kỳ vọng của nhà đầu tư.
PGS.TS. Bùi Thị Mai Hoài - Viện trưởng Viện Tài chính bền vững, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
"Thuế carbon là một chi phí mới được tính vào chi phí hoạt động. Do vậy, cùng với việc quản lý tuân thủ, doanh nghiệp cần theo sát các thay đổi chính sách định giá carbon của các quốc gia và khu vực liên quan đến hoạt động của mình để đánh giá thuế carbon sẽ tác động như thế nào đến mức giá cuối cùng của các sản phẩm, dịch vụ mà mình cung ứng, từ đó có chiến lược ứng phó phù hợp.
Tuy nhiên, chính sách định giá carbon đang thay đổi nhanh chóng không hẳn là một mối đe dọa. Nhiều doanh nghiệp nhìn thấy giá trị của việc đầu tư vào chuỗi cung ứng có cường độ carbon thấp hơn và công nghệ sạch hơn. Bên cạnh các giá trị vô hình, họ còn được hưởng lợi từ các khoản tín dụng thuế và trợ cấp do các chính phủ khuyến khích đầu tư vào công nghệ sạch".
PGS.TS. Bùi Thị Mai Hoài - Viện trưởng Viện Tài chính bền vững, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
"Thuế carbon là một chi phí mới được tính vào chi phí hoạt động. Do vậy, cùng với việc quản lý tuân thủ, doanh nghiệp cần theo sát các thay đổi chính sách định giá carbon của các quốc gia và khu vực liên quan đến hoạt động của mình để đánh giá thuế carbon sẽ tác động như thế nào đến mức giá cuối cùng của các sản phẩm, dịch vụ mà mình cung ứng, từ đó có chiến lược ứng phó phù hợp.
Tuy nhiên, chính sách định giá carbon đang thay đổi nhanh chóng không hẳn là một mối đe dọa. Nhiều doanh nghiệp nhìn thấy giá trị của việc đầu tư vào chuỗi cung ứng có cường độ carbon thấp hơn và công nghệ sạch hơn. Bên cạnh các giá trị vô hình, họ còn được hưởng lợi từ các khoản tín dụng thuế và trợ cấp do các chính phủ khuyến khích đầu tư vào công nghệ sạch".
Hơn nữa, doanh nghiệp nào có chiến lược thích ứng sớm, tiếp cận chính sách định giá carbon một cách chủ động sẽ mang lại các giá trị tài chính như giảm thiểu chi phí thuế, giảm thiểu rủi ro tài chính liên quan đến cơ chế định giá carbon trong tương lai. Với việc tuân thủ quy định, các doanh nghiệp còn gặt hái giá trị về danh tiếng, vị thế và thu hút khách hàng, tận dụng được các chính sách ưu đãi, đồng thời ảnh hưởng đến mối quan hệ và nhận thức của cổ đông về các giá trị dài hạn. Kết quả là, doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp được cải thiện.
Một phân tích của KPMG năm 2018 dựa trên dữ liệu S&P Capital IQ trong thời kỳ 15 năm (2003-2017) cũng cho thấy các doanh nghiệp theo đuổi các giá trị dài hạn có doanh thu và lợi nhuận cao hơn hẳn các công ty chỉ tập trung theo đuổi giá trị ngắn hạn.
Còn theo khảo sát của PWC năm 2024, có 45% CEO bày tỏ lo ngại về khả năng tồn tại lâu dài của doanh nghiệp nếu tiếp tục đi theo con đường cũ. Ý thức cấp bách này phản ánh sự nhận thức ngày càng tăng về thay đổi chiến lược kinh doanh để thích nghi với các vấn đề biến đổi khí hậu và các thách thức môi trường khác. Điều này thể hiện sự sẵn sàng của các CEO theo đuổi các giá trị dài hạn. Đây là một thuận lợi cho việc thực hành chiến lược kinh doanh bền vững...
(*) PGS.TS. Bùi Thị Mai Hoài - Viện trưởng Viện Tài chính bền vững, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
Nội dung đầy đủ của bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 9-2025 phát hành ngày 3/3/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Các đợt nắng nóng gay gắt đang tạo thêm động lực cho du lịch quốc tế đến Trung Quốc, khi du khách không chỉ tìm kiếm những trải nghiệm về lịch sử, văn hóa mà còn muốn tìm một nơi tránh nóng. Đằng sau những “điểm đến mùa hè” này là hệ thống năng lượng, hạ tầng giao thông và công nghệ ngày càng phát triển, trong đó điện xanh đang đóng vai trò ngày càng rõ nét…
Trong năm nay, chương trình Khảo sát, đánh giá và Công bố kết quả “Doanh nghiệp ESG Xanh Quốc gia 2026 chuyển trọng tâm từ ghi nhận các mô hình xanh sang khảo sát mức độ thực hành ESG tại doanh nghiệp...
Không chỉ mở rộng, giao thêm thẩm quyền tự chủ đầu tư, kinh doanh cho doanh nghiệp mà còn giao cho Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam là đơn vị chủ lực thay mặt cho Nhà nước để quản lý hợp đồng về dầu khí. Đó là những thay đổi rất lớn từ Luật Dầu khí (sửa đổi) hiện nay.
Nhằm đáp ứng các quy định mới nhất từ Văn bản hướng dẫn thực thi Công ước UPOV (UPOV/INF/15/4), dự thảo Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi) đề xuất tập trung đầu mối quản lý Nhà nước về quyền đối với giống cây trồng về Bộ Khoa học và Công nghệ. Đây được xem là bước đi mang tính chiến lược nhằm kiện toàn mô hình quản lý, tăng hiệu lực thực thi, thống nhất cho toàn bộ hệ thống sở hữu trí tuệ quốc gia...
Đà Nẵng đẩy mạnh phát triển tín chỉ carbon rừng tạo nguồn lực tài chính và thúc đẩy quản lý rừng bền vững. Thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030 có từ 1- 3 dự án carbon rừng được cấp có thẩm quyền phê duyệt; ký ít nhất một hợp đồng mua bán tín chỉ trong nước hoặc quốc tế…
Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).
Không chỉ mở rộng, giao thêm thẩm quyền tự chủ đầu tư, kinh doanh cho doanh nghiệp mà còn giao cho Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam là đơn vị chủ lực thay mặt cho Nhà nước để quản lý hợp đồng về dầu khí. Đó là những thay đổi rất lớn từ Luật Dầu khí (sửa đổi) hiện nay.
Phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) kết hợp với mạng lưới đường sắt đô thị (metro) là chiến lược cốt lõi để giải quyết ùn tắc và tái cấu trúc không gian. Mô hình này tập...
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...