Tình trạng này sẽ đặt ra nhiều thách thức cho các nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu nguyên nhiên liệu, đặc biệt là ở châu Á.
Sau khi thỏa thuận trên được công bố vào cuối tuần vừa rồi, bao gồm nội dung eo biển Hormuz sẽ được mở cửa trở lại, giá dầu thô đã giảm nhanh.
Giá dầu WTI giảm xuống gần 80 USD/thùng, so với mức đỉnh 119 USD vào tháng 3. Tương tự, giá dầu Brent cũng giảm xuống còn 83 USD, từ mức đỉnh 126,4 USD vào tháng 4. Tuy nhiên, giá dầu vẫn cao hơn so với mức 60-70 USD/thùng vào tháng 2, trước khi Mỹ và Israel bắt đầu tấn công Iran.
Việc khôi phục lại hoạt động logistics tại eo biển Hormuz sẽ mất nhiều thời gian, bắt đầu từ việc gỡ bỏ các bãi mìn do Iran cài đặt. Quá trình này có thể kéo dài hàng tháng, và ngay cả khi hoàn tất, các công ty bảo hiểm vẫn sẽ do dự trong việc bảo hiểm cho các tàu thuyền cho đến khi an toàn được đảm bảo. Chưa kể, một thỏa thuận giữa Mỹ và Iran cũng không đảm bảo sự tuân thủ từ phía Israel hay Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) - theo nhận định của một nhà phân tích trong lĩnh vực năng lượng với tờ báo Nikkei Asia.
Theo ông Takahiro Asaoka, nhà kinh tế cấp cao tại Viện Nghiên cứu Itochu, sẽ mất khoảng 3 tháng để khôi phục lại lưu lượng tàu qua eo biển Hormuz về mức trước xung đột. Quá trình này không chỉ ảnh hưởng đến nguồn cung hàng hóa mà còn tác động đến chuỗi cung ứng toàn cầu trong thời gian dài. Các nền kinh tế châu Á, vốn phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu hàng hóa, sẽ tiếp tục đối mặt với áp lực lạm phát.
Ông Asaoka dự báo rằng 80% các mỏ dầu bị dừng hoạt động vì những nguyên nhân liên quan tới chiến tranh sẽ hoạt động trở lại sau 1 tháng rưỡi. 20% còn lại sẽ cần nhiều thời gian hơn để tái khởi động, nhưng sản lượng dầu của Trung Đông sẽ trở lại mức trước xung đột sớm hơn nhờ vào công suất dự trữ.
Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) ước tính rằng nếu xung đột kết thúc vào đầu tháng 6, nguồn cung dầu sẽ bắt đầu phục hồi chậm từ quý 3, nhưng phải đến tháng 10 mới có thể bắt kịp nhu cầu. Tới khi đó, một sự thặng dư nguồn cung khiêm tốn chỉ đủ để bù đắp phần nào sự sụt giảm lượng dầu tồn trữ suốt từ cuối tháng 2.
Tuy nhiên, mức độ thiệt hại mà chiến tranh gây ra đối với các đường ống, nhà máy lọc dầu, cơ sở bốc dỡ cảng và các mỏ dầu khí vẫn chưa được xác định. Chỉ khi eo biển Hormuz trở nên an toàn, các công ty kỹ thuật mới có thể cử chuyên gia từ bên ngoài khu vực để đánh giá thiệt hại, mang thiết bị cần thiết vào khu vực, sửa chữa các cơ sở và thực hiện các thử nghiệm. Quá trình này sẽ mất ít nhất 2-3 tháng - theo nhà phân tích năng lượng trao đổi với Nikkei Asia.
Bộ trưởng Năng lượng Qatar, ông Saad Sherida Al-Kaabi, cho biết vào tháng 3 rằng thiệt hại đối với các cơ sở khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) tại khu công nghiệp Ras Laffan của nước này sẽ mất từ 3-5 năm để sửa chữa. Những thiệt hại này được dự báo sẽ dẫn đến mất mát 17% lượng xuất khẩu LNG của Qatar, cũng như 24% xuất khẩu khí ngưng tụ của nước này.
Ông Asaoka kỳ vọng rằng giá dầu thô West Texas Intermediate (WTI) của Mỹ sẽ duy trì ở mức 65 - 70 USD/thùng, cao hơn mức giá cân bằng trước xung đột là khoảng 60 USD/thùng - ngay cả sau khi giao thông ở eo biển Hormuz trở lại bình thường. "Sẽ có các khoản phí rủi ro vì có nguy cơ eo biển Hormuz bị gián đoạn ngay cả sau khi được mở cửa trở lại”, ông nói.
Dầu thô WTI đã giao dịch ở mức giá bình quân khoảng 65 USD/thùng trong tháng 2 năm nay. Ông Yuki Takashima, một nhà kinh tế tại công ty Nomura Securities, dự báo phải đến tháng 9/2027 giá dầu WTI mới giảm về mức 65 USD/thùng.
Đối với khí tự nhiên, nếu "eo biển Hormuz mở cửa trở lại ngay lập tức, thì giá có thể giảm về mức 10 USD/1 triệu đơn vị nhiệt Anh (BTU), tương tự như trước chiến tranh” - theo ông Alex Froley, một nhà phân tích LNG cấp cao tại ICIS, một công ty tư vấn hàng hóa. Nhưng "chúng tôi không còn kỳ vọng giá sẽ giảm xuống dưới 10 USD như đã kỳ vọng trước đây" do công suất sản xuất mới ở Mỹ và Qatar bị bù trừ bởi sự mất mát nguồn cung do gián đoạn ở eo biển Hormuz.
Ông Froley giải thích rằng các dự án mở rộng sản xuất LNG của Qatar đã bị trì hoãn do chiến tranh và các cơ sở ở khu công nghiệp Ras Laffan của nước này đã bị hư hại trong cuộc chiến.
Không chỉ năng lượng bị ảnh hưởng bởi việc đóng cửa Hormuz. Các cơ sở sản xuất nhôm lớn - mà một số chuyên gia dự báo sẽ mất "ít nhất 1 năm" để phục hồi - cũng bị ảnh hưởng trong cuộc chiến này.
"Sự gián đoạn nguồn cung phân bón có thể có một số tác động dài hạn, vì ít phân bón hơn ở thời điểm hiện tại đồng nghĩa năng suất cây trồng thấp hơn sau này”, ông Paul Bloxham, nhà kinh tế về hàng hóa của ngân hàng HSBC, nhận định trong một báo cáo.
Khu vực bị ảnh hưởng bởi chiến tranh cũng chiếm khoảng một nửa xuất khẩu lưu huỳnh toàn cầu - loại nguyên liệu được sử dụng trong quá trình luyện đồng. Chiến lược gia hàng hóa Alice Fox của ngân hàng đầu tư Macquarie Group cho biết sẽ mất nhiều thời gian hơn để các lô hàng lưu huỳnh được vận chuyển bình thường trở lại qua eo biển Hormuz, nếu so với dầu và khí đốt - hai mặt hàng sẽ được ưu tiên hơn. Bà nhấn mạnh rằng điều này có thể dẫn tới giảm sản lượng đồng.
Tốc độ lạm phát tại các nền kinh tế cũng sẽ mất thời gian để giảm xuống sau khi chiến tranh kết thúc - theo giới chuyên gia. Sau khi giá dầu bắt đầu giảm, "lạm phát vẫn sẽ tiếp tục tăng trong một thời gian nữa" trước khi đạt đỉnh - ông Gaurav Ganguly, trưởng bộ phận kinh tế quốc tế tại công ty Moody's Analytics, đánh giá.
Giáo sư Alberto Cavallo tại Trường Kinh doanh Harvard cho rằng sẽ có "hiệu ứng lan tỏa thứ cấp" khi các công ty cuối cùng chuyển chi phí tăng thêm về phía khách hàng, và việc chuyển chi phí này sẽ diễn ra sau khoảng 3 tháng sau khi giá nhiên liệu bắt đầu xuống thang.
Các nền kinh tế châu Á phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng dễ bị tổn thương trước tác động của giá hàng hóa tăng. Ông Dwyfor Evans, trưởng bộ phận chiến lược vĩ mô châu Á - Thái Bình Dương tại công ty State Street Markets, cho rằng đối với Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan, "rủi ro suy giảm tăng trưởng từ giá hàng hóa tăng mạnh sẽ được bù đắp ở một mức độ nào đó bởi xuất khẩu ròng mạnh" nhờ thế mạnh của các nền kinh tế này về hàng hóa liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI). Tuy nhiên, ông chỉ ra rằng các nước Đông Nam Á không có được một bộ đệm đến từ chuyên môn hóa trong xuất khẩu công nghệ.