Giao lưu trực tuyến: Tiếng nói doanh nghiệp trong Quốc hội
VnEconomy
29/10/2008, 13:56
Nội dung chính của buổi giao lưu trực tuyến với ba đại biểu Quốc hội, diễn ra ngày 29/10 trên VnEconomy
Thái độ và trách nhiệm của các đại biểu Quốc hội - doanh nhân trước những khó khăn của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, nhất là khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đang hoành hành?
Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XII đang diễn ra với nhiều vấn đề quan trọng trong chương trình nghị sự.
Tiếng nói của các doanh nhân - những người đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp - được thể hiện thế nào trên nghị trường trong vai trò đại biểu Quốc hội, đối với công tác lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề lớn của đất nước?
Thái độ và trách nhiệm của các đại biểu Quốc hội - doanh nhân trước những khó khăn của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, nhất là khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đang hoành hành?
Đó là nội dung chính của buổi giao lưu trực tuyến hôm nay (29/10) trên VnEconomy, diễn ra từ 14 giờ đến 17 giờ. Khách mời của chúng tôi là ba đại biểu Quốc hội có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động dân cử và gần gũi với cộng đồng doanh nghiệp:
- Ông
Nguyễn Đức Kiên
, Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, đại biểu Quốc hội tỉnh Sóc Trăng;
- Bà
Phạm Thị Loan
, Tổng giám đốc Tập đoàn Việt Á, đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội, Ủy viên Ủy ban Tài chính và Ngân sách của Quốc hội;
- Ông
Nguyễn Văn Thời
, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG, đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Nguyên.
Ông Nguyễn Đức
Kiên
Bà Phạm Thị
Loan
Ông Nguyễn Văn
Thời
Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu những nội dung chính của cuộc giao lưu trực tuyến:
Thúy Hòa:
Năm nay có nhiều khả năng GDP của Việt Nam sẽ không đạt 7%, tôi muốn hỏi ông Kiên vậy tại sao Ủy ban Kinh tế vẫn kiên trì đề nghị con số 6,5 % -7% cho năm 2009?
Ông Nguyễn Đức Kiên:
Xin chào bạn,
Trong báo cáo thẩm tra tình hình kinh tế - xã hội năm 2008 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2009, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội đã đề nghị Quốc hội và Chính phủ thảo luận, cân nhắc lựa chọn tốc độ tăng trưởng GDP của năm 2009 từ 6,5% đến 7% vì các lý do sau đây:
Đa số các đại biểu của Ủy ban Kinh tế cho rằng, tình hình kinh tế thế giới những tháng cuối năm 2008 và nửa đầu năm 2009 diễn biến còn rất phức tạp, sẽ ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế nước ta, thể hiện qua việc một loạt các ngân hàng lớn trên thế giới bị mất tính thanh khoản, giá dầu trên thị trường thế giới giảm hơn hai lần so với thời điểm cao nhất là 147 USD/thùng. Sức tiêu thụ của các thị trường trọng điểm của Việt Nam như Mỹ và EU có xu hướng giảm sút.
Ở trong nước, chính sách thắt chặt tiền tệ tiếp tục được thực hiện trong năm 2009 sẽ làm cho các doanh nghiệp khó khăn khi tiếp cận với nguồn vốn tín dụng từ ngân hàng; việc giảm đầu tư sẽ có ảnh hưởng từ năm 2008 sang năm 2009; số lượng người lao động phải nghỉ chờ việc sẽ ngày càng tăng; mặt bằng giá mới được thiết lập cao hơn nhiều so với năm 2007 nhưng hệ thống cơ chế chính sách chưa chuyển đổi kịp với mặt bằng giá này; các doanh nghiệp Nhà nước trong năm 2008 cũng chưa có thay đổi đột biến về cơ cấu theo chiều hướng tạo đà cho phát triển của năm 2009.
Vì vậy, Ủy ban Kinh tế tán thành với chủ trương điều hành vĩ mô là tiếp tục chính sách thắt chặt tiền tệ, giảm chi tiêu để kiềm chế lạm phát, đảm bảo ổn định vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội và tăng trưởng do Chính phủ đề nghị. Giữ mức tăng trưởng GDP ở tốc độ 6,5% là cân nhắc tới các điều kiện trong nước 2009 tương tự như năm 2008 nên đặt tốc độ phát triển cũng tương đương với năm 2008.
Mặt khác, cũng dự phòng phương án khi hệ thống chính sách cứu trợ nền kinh tế của các nước trên thế giới phát huy hiệu quả thì chúng ta cần phải tận dụng thời cơ để đưa nền kinh tế phát triển với tốc độ cao hơn so với năm 2008.
Như vậy, chúng ta có một độ linh hoạt cần thiết để khi điều hành có thể chủ động trong việc đưa ra những quyết sách định hướng của nền kinh tế phù hợp với tình hình thế giới nhưng không làm ảnh hưởng đến mục tiêu tổng quát là đảm bảo ổn định vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội.
Anh Quân:
Tôi đọc trong báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế thấy có viết “Ủy ban Kinh tế thấy rằng, rất khó kiểm soát và đánh giá hoạt động đầu tư của các Tập đoàn và Tổng công ty nhà nước, khó đánh giá về khả năng trả nợ vay của các doanh nghiệp nhà nước”. Nguyên nhân của cái “khó” này bắt nguồn từ đâu thưa ông Kiên?
Ông Nguyễn Đức Kiên:
Tôi nghĩ về vấn đề tập đoàn kinh tế và tổng công ty Nhà nước: cái khó đầu tiên là về hệ thống pháp lý đảm bảo cho sự hoạt động của tập đoàn kinh tế.
Vào những năm 95-96 của thế kỷ trước, chúng ta đã thành lập 17 tổng công ty 91 và mỗi tổng công ty được thành lập trên cơ sở một nghị định của Chính phủ. Từ năm 2005 trở lại đây, chúng ta lần lượt thành lập 8 tập đoàn kinh tế nhưng mới chỉ có một tập đoàn có nghị định của Chính phủ và về chức năng, nhiệm vụ và quy chế tài chính. Còn các tập đoàn còn lại, hoạt động bằng quyết định của Chính phủ.
Trong Luật Doanh nghiệp năm 2005, mô hình tập đoàn kinh tế cũng chỉ được khái quát trong một Điều về khái niệm. Cho đến nay, tổ chức bộ máy và quy chế hoạt động vẫn chưa có văn bản pháp quy nào quy định.
Chính vì vậy, việc xác định trách nhiệm quản lý vốn và nhân sự của các doanh nghiệp này thường được hiểu là do Thủ tướng Chính phủ quyết định, trong khi Nghị định 86 về chức năng, nhiệm vụ của bộ máy Nhà nước lại chưa có nghị định mới thay thế.
Chức năng, nhiệm vụ của các bộ quản lý ngành trước kia cũng được Chính phủ nhiệm kỳ 2007- 2011 quy định tại các Nghị định mới theo hướng bỏ bộ chủ quản. Vì vậy, thiếu một đầu mối chịu trách nhiệm trước Thủ tướng, trước Chính phủ về đánh giá hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp này.
Để khắc phục, theo tôi cần làm rõ khái niệm doanh nghiệp trực thuộc Thủ tướng vì trong nền kinh tế thị trường, theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới, Thủ tướng hoặc người đứng đầu Chính phủ ít khi can thiệp trực tiếp vào công việc sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp.
Cần tổ chức một bộ máy giúp việc Thủ tướng đủ mạnh để quản lý 17 tổng công ty 91 và tập đoàn nói trên, không dùng bộ máy của Văn phòng Chính phủ như hiện nay để tham mưu về sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Một bạn đọc:
Xin được hỏi đại biểu Nguyễn Đức Kiên, Quốc hội khóa 12 có bao nhiêu đại biểu là doanh nhân, theo ông số lượng như vậy đã đại diện được cho tiếng nói của giới doanh nhân trong Quốc hội chưa?
Ông Nguyễn Đức Kiên:
Theo tôi được biết có khoảng gần 30 đại biểu là doanh nghiệp. Chúng ta có 86 triệu dân và khoảng gần 400 ngàn doanh nghiệp, tôi nghĩ tỷ lệ như thế là cao.
Đỗ Huy Hoàng:
Xin được hỏi các đại biểu, có thể “nhạy cảm” và mang tính cá nhân. Các vị vừa là đại biểu Quốc hội vừa là doanh nhân, vậy trong hoạt động kinh doanh cụ thể có sự ảnh hưởng giữa hai vai trò đó không?
Ông Nguyễn Văn Thời:
Hai vai trò này nhìn chung có bổ trợ cho nhau. Là doanh nhân, chúng tôi rất cần biết các thông tin kinh tế vĩ mô. Còn với tư cách là một đại biểu Quốc hội, chúng tôi cần biết những vấn đề thực tiễn để đóng góp ý kiến trong các cuộc họp của Quốc hội.
Bà Phạm Thị Loan:
Câu trả lời là KHÔNG!
Vì nếu như người ta vào Quốc hội để vì dân vì nước thì người ta phải nghĩ đến những vấn đề vĩ mô, xây dựng các chính sách vĩ mô nhằm mang lại lợi ích hài hòa của Nhà nước và nhân dân, trong đó có bản thân mình, doanh nghiệp mình.
Không thể lấy lợi ích của một doanh nghiệp để ảnh hưởng đến chính sách chung của cả đất nước, tuy nhiên nó có sự hỗ trợ lẫn nhau, đó là một doanh nhân lăn lộn với thương trường thì có vốn hiểu biết nhất định về kinh tế vĩ mô và vi mô, có hiểu biết những tâm tư nguyện vọng của doanh nhân và doanh nghiệp và cả những người lao động để có thể góp tiếng nói xây dựng cơ chế chính sách phù hợp cho tất cả các đối tượng liên quan.
Ngược lại, làm đại biểu Quốc hội cũng có nhiều cơ hội để học hỏi, hiểu biết về chính sách để thực thi nhiệm vụ là một doanh nhân được đúng luật.
Một số bạn đọc:
Kính chào các vị đại biểu Quốc hội, xin được hỏi vấn đề làm “đau đầu” các vị nhất tại kỳ họp này là gì?
Ông Nguyễn Văn Thời:
Vấn đề khiến chúng tôi “đau đầu” nhất hiện nay đang là suy nghĩ nhằm đề xuất giải pháp với Chính phủ nhằm ổn định kinh tế vĩ mô. Chúng tôi muốn đưa ra những biện pháp trúng nhất và sát nhất để đem lại sự ổn định cho nền kinh tế.
Về phần mình, tôi đặc biệt quan tâm tới vấn đề cổ phần hóa doanh nghiệp. Quá trình này diễn ra quá chậm, hiệu quả thấp. Nếu chúng ta đẩy nhanh được quá trình này, tăng trưởng kinh tế sẽ được kích thích, trong khi lạm phát lại được kiềm chế.
Một vấn đề nữa là chống độc quyền của doanh nghiệp nhà nước mà EVN là một ví dụ điển hình.
Bà Phạm Thị Loan:
Vấn đề "đau đầu" là thời gian ít, quá nhiều vấn đề, vấn đề nào cũng "đau đầu". Nếu không giải quyết hết cũng là vấn đề "đau đầu".
Tôi quan tâm nhất là nền kinh tế của nước ta năm nay và năm sau và làm sao để giải tỏa những khó khăn hiện tại và tương lai của các doanh nghiệp, đảm bảo phát huy nội lực, giảm lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo phát triển bền vững, đồng thời phải quan tâm đến đời sống của nhân dân, phải có những chính sách giải quyết những vấn đề dân sinh bức xúc, đảm bảo giữ vững lòng tin của nhân dân.
Đối với chính sách tài khóa thắt chặt thì cần phải nghiên cứu xem thắt chặt như thế nào cho hữu hiệu đảm bảo đồng bộ và linh hoạt với chính sách thắt chặt tiền tệ, sử dụng vốn Nhà nước có hiệu quả, giảm lạm phát và tăng trưởng hợp lý và bền vững.
Văn Quốc Khánh:
Tôi muốn hỏi cả ba đại biểu, các vấn đề đem ra bàn luận tại Quốc hội gần đây đã sát hơn với thực tế cuộc sống và hoạt động doanh nghiệp, nhưng từ quan điểm đến thực hiện còn khoảng cách xa. Cụ thể các vấn đề về cải cách thủ tục hành chính để môi trường kinh doanh thuận lợi, Quốc hội đã bàn rất nhiều, chính sách cũng đã ban hành nhưng trong từng công việc, doanh nghiệp vẫn vướng. Các diễn giả có thể chia sẻ hướng giải quyết vấn đề này?
Ông Nguyễn Văn Thời:
Đất nước ta mới hội nhập và vẫn chưa được công nhận là nền kinh tế thị trường. Cho nên, luật pháp của nước ta vẫn còn thiếu và chưa sát với thực tế. Có những đất nước đã làm luật 200 năm mà pháp luật của họ vẫn còn thiếu, do đó pháp luật của ta còn thiếu là chuyện khó tránh khỏi.
Chẳng hạn, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt ta đã ban hành năm 1998, nhưng phải chỉnh sửa liên tục vào các năm 2003, 2005, và 2008 lại phải sửa tiếp. Quá trình thực hiện luật luôn phát sinh những vướng mắc mới.
Luật Đất đai là ví dụ. Nhiều vấn đề mới phát sinh, đòi hỏi sự chỉnh sửa cấp thiết, lẽ ra được thông qua ở kỳ họp thứ 4 này, nhưng việc chỉnh sửa vẫn chưa kịp, do đó phải lùi sang kỳ họp sau.
N.M.Hào:
Về lý thuyết thì các vị đại biểu là doanh nhân nói về những vấn đề liên quan đến doanh nghiệp sẽ “trúng” hơn các vị khác. Còn thực tế ở diễn đàn Quốc hội thì sao, thưa ông?
Ông Nguyễn Đức Kiên:
Tôi mới tham gia Quốc hội nhiệm kỳ đầu tiên nên có ít kinh nghiệm về vấn đề này. Tuy nhiên, nếu đối chiếu theo nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội được quy định tại luật tổ chức Quốc hội thì đại biểu Quốc hội phải là người đại diện cho quyền lợi chính đáng của nhân dân cả nước.
Vì vậy, nếu doanh nhân không tham gia trong một tổ chức, hiệp hội ngành nghề hoặc là thành viên của một tổ chức chính trị - xã hội nào đó thì lượng thông tin đến không đủ, khó khái quát tổng hợp được vấn đề của từng doanh nghiệp thành vấn đề của các doanh nghiệp.
Phong MBA:
Trước tiên cho tôi gửi lời chúc sức khỏe đến các đại biểu. Xin hỏi cả ba vị cơ chế hoạt động hiện nay của Quốc hội đã phát huy được tối đa sự đóng góp của doanh nhân vào hoạt động lập pháp nói chung và xây dựng luật trong lĩnh vực kinh tế nói riêng chưa?
Ông Nguyễn Đức Kiên:
Xin cảm ơn bạn về lời hỏi thăm sức khỏe.
Cơ chế hiện nay chưa có đại biểu nào nói là hạn chế khả năng đóng góp của đại biểu. Vì vậy xin phép được coi như là đã trả lời.
Vũ Anh Quân:
Kiềm chế lạm phát bằng chính sách thắt chặt tiền tệ là đúng nhưng chưa đủ. Chi tiêu công hiện nay chiếm khoảng 40% GDP và chi tiêu ngân sách vẫn gần 5% vào năm 2009. Có phải ta đang thực thi chính sách kiềm chế lạm phát nửa vời? Xin hỏi thắt chặt tín dụng là làm khó doanh nghiệp, và như vậy có bất công với doanh nghiệp?
Ông Nguyễn Đức Kiên:
Trước hết cho phép tôi bổ sung một chút: tỷ lệ 40% GDP là tổng mức huy động đầu tư toàn xã hội chứ không hẳn là chi tiêu công. Bội chi ngân sách 2009 dự kiến là 4,8%.
Mục tiêu của chúng ta là: kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững. Vì vậy, không thể tách rời kiềm chế lạm phát với các vấn đề khác, tránh liệu pháp “sốc” gây đổ vỡ.
Vấn đề thắt chặt tín dụng là quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ (ngân hàng thương mại) với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khác thông qua lãi suất. Nếu khả năng tài chính của doanh nghiệp mạnh, có thị trường và dự án tốt thì không bị ảnh hưởng nhiều, không bị làm khó.
Nhiều bạn đọc:
Tại kỳ họp lần này, “đầu tư tay trái” của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước tiếp tục được Quốc hội bàn thảo. Là những đại biểu, cũng là những doanh nhân, xin được hỏi quan điểm của bà Loan và ông Thời về vấn đề này?
Ông Nguyễn Văn Thời:
Đợt này, các đại biểu nói chung và các đại biểu là doanh nhân nói riêng đều rất quan tâm đến vấn đề đầu tư tay trái của các tập đoàn và tổng công ty nhà nước.
Các đại biểu Quốc hội đã kiến nghị Quốc hội đưa vào chương trình giám sát năm 2009 về vấn đề cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và vấn đề đầu tư vốn của các tập đoàn và tổng công ty nhà nước.
Bà Phạm Thị Loan:
Kinh nghiệm và hiểu biết của tôi đối với nền kinh tế trên thế giới, đặc biệt là đối với các tập đoàn lớn trên thế giới thì như các cụ xưa kia đã nói "nhất nghệ tinh, nhất thân vinh", mình phải nắm chắc được một nghề, đi sâu phát triển nghề đó thì mới phát triển bền vững.
Ví dụ như, các tập đoàn lớn trên thế giới như Microsoft thì chỉ chuyên về công nghệ phần mềm, Cocacola chuyên về nước giải khát, Sony chuyên về hàng điện tử, âm thanh, ABB chuyên về thiết bị điện...
Còn kinh nghiệm những tập đoàn như Huyndai, Daewoo,... thì đã bị gần như phá sản vì đầu tư đa nhành nghề. Các chương trình thạc sỹ cũng dạy người ta phải biết xác định đâu là ngành nghề cốt lõi của mình, đâu là thế mạnh của mình để dựa vào đấy mà định hướng phát triển. Vậy thì, không ngoại trừ doanh nghiệp nào dù là nhà nước hay ngoài nhà nước đều phải dựa trên nguyên tắc đó để mà tập trung đầu tư phát triển một cách có hiệu quả và bền vững.
Không phải cứ tiền của nhà nước là muốn đầu tư gì thì đầu tư, hay biện luận rằng có lãi là đầu tư. Cái "lãi" ở đây phải tính đến lợi ích chung của đất nước, của nhân dân một cách bền vững chứ không phải chụp giật, đầu cơ ngắn hạn, giàu xổi,...
Vì vậy, quan điểm của tôi là các tập đoàn nhà nước nên tập trung đầu tư chiều sâu cho ngành nghề cốt lõi của mình, theo nhiệm vụ phân ngành đã được giao.
Lê Văn Vinh:
Xin chào 3 đồng chí đại biểu Quốc hội. Tôi xin tự giới thiệu, tôi hiện đang công tác tại chi nhánh Ngân hàng Phát triển Thái Nguyên. Tôi cho rằng lâu nay đã có sự không công bằng trong việc đối xử của Nhà nước với doanh nghiệp không phải là Nhà nước. Là đại biểu Quốc hội, là những người giữ trọng trách quan trọng trong doanh nghiệp ngoài Nhà nuớc, bà Phạm Thị Loan, ông Nguyễn Văn Thời có ý kiến gì đề xuất với Chính phủ như thế nào để giảm bớt sự không công bằng này? Xin trân trọng cảm ơn.
Ông Nguyễn Văn Thời:
Tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến của bạn.
Chúng tôi cũng đã có thái độ dứt khoát đề nghị với Chính phủ phải kiểm tra lại hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư của các tập đoàn thuộc khối doanh nghiệp nhà nước; không được bảo lãnh cho các tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước phát hành trái phiếu ra nước ngoài, ví dụ như Vinashin; không được bảo lãnh cho các doanh nghiệp nhà nước vay vốn tại các ngân hàng tín dụng trong nước.
Chúng tôi yêu cầu các doanh nghiệp này phải tự chứng minh tính hiệu quả của các dự án và kết quả sản xuất kinh doanh với ngân hàng để được vay vốn, bình đẳng như những gì mà các doanh nghiệp khác phải làm theo Luật Doanh nghiệp.
Đây cũng là vấn đề trong tham luận của tôi ngày hôm nay, cũng là vấn đề mà tôi chất vấn Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc phân bổ ngân sách cho các doanh nghiệp và tổng công ty nhà nước trong năm 2009. Theo tôi, điều này là vi phạm Luật Doanh nghiệp và Luật Cạnh tranh.
Rất nhiều đại biểu Quốc hội đã tỏ thái độ kiên quyết rằng Nhà nước không nên bao bọc các doanh nghiệp Nhà nước, mà phải tạo ra một sân chơi bình đẳng cho tất cả các thành phần kinh tế.
H.H:
Vai trò giám sát của đại biểu Quốc hội rất quan trọng, vậy việc giám sát có liên quan đến hoạt động doanh nghiệp được thực hiện như thế nào? Có ý kiến cho rằng nếu công tác giám sát được làm tốt ở từng địa phương, doanh nghiệp thì rất có thể đã không có những vụ việc nghiêm trọng như “Vedan” xảy ra?
Ông Nguyễn Đức Kiên:
Giám sát là một trong những nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội được quy định trong luật tổ chức Quốc hội
Hoạt động của doanh nghiệp cũng chỉ là một trong các hoạt động diễn ra trong lĩnh vực kinh tế xã hội. Khi giám sát các đại biểu Quốc hội sẽ giám sát về việc xây dựng cơ chế chính sách, thực hiện pháp luật và các khó khăn, kiến nghị.
Công tác giám sát ở địa phương sẽ do hội đồng nhân dân thực hiện. Các đoàn đại biểu Quốc hội cũng có chương trình giám sát phối hợp với hội đồng nhân dân.
Ông Nguyễn Văn Thời:
Đúng vậy, nếu trong thời gian qua, từng đại biểu Quốc hội và từng cán bộ, công chức liên quan đến công tác môi trường mà làm tốt công tác giám sát thì có thể không để xảy ra những vụ việc như Vedan.
Có thể nói rằng, ai cũng biết dòng sông Thị Vải bị ô nhiễm môi trường là do nguyên nhân xả nước thải gây ô nhiễm môi trường. Nếu chúng ta đi sâu tìm hiểu thì sẽ biết ngay được doanh nghiệp nào xả nước thải chưa qua xử lý ra sông.
Chúng ta yêu cầu các đơn vị đó phải khắc phục ngay thì không có hiện tượng gây nên các dòng sông “chết”. Nếu đơn vị đó không chấp hành khắc phục ngay thì sẽ đề nghị xử lý theo pháp luật.
Nhưng đúng là các đại biểu Quốc hội vẫn chưa thực hiện hết chức năng giám sát tối cao của mình.
T.Lan:
Kinh tế vĩ mô đã có những chuyển biến, lạm phát cũng đang hạ nhiệt. Vậy theo các đại biểu, thời điểm này đã nên nới lỏng hơn chính sách tiền tệ chưa? Làm thế nào để các doanh nghiệp tiếp cận vốn ngân hàng thuận lợi hơn?
Ông Nguyễn Đức Kiên:
Nhận xét của bạn là đúng. Trong báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế cũng đã đề xuất cần thực hiện chính sách tiền tệ một cách linh hoạt trong năm 2009.
Việc tiếp cận vốn của doanh nghiệp hiện nay không có gì khó khăn. Khó khăn là ở chỗ lãi suất cao, nên doanh nghiệp không muốn vay, vì nếu vay khả năng kinh doanh có lãi bị hạn chế.
N.B.Hường:
Luật liên quan đến thuế của chúng ta thay đổi nhiều quá. Doanh nghiệp trong nước thì mất thì giờ cập nhật, thay đổi các kế hoạch kinh doanh cho phù hợp, mất chủ động. Doanh nghiệp nước ngoài thì lo ngại. Rất cần có chính sách ổn định hơn. Quan điểm của các diễn giả như thế nào?
Ông Nguyễn Văn Thời:
Về vấn đề này, tôi đã đặt câu hỏi với Chủ tịch Quốc hội, rằng căn cứ vào cơ sở pháp lý nào mà Chính phủ được quyền thay đổi các sắc thuế. Theo Điều 84 của Hiến pháp, chỉ Quốc hội mới có quyền thay đổi sắc thuế.
Trong 9 tháng qua, Chính phủ đã hai lần điều chỉnh thuế nhập khẩu ô tô, ba lần điều chỉnh thuế xuất phôi thép, hai lần điều chỉnh thuế xuất khẩu gạo, và có nhiều sắc thuế cao hơn, nhưng cũng có những sắc thuế thấp hơn mức thuế mà Việt Nam cam kết gia nhập WTO.
Điều này đã gây thiệt hại cho các doanh nghiệp và nông dân ở ĐBSCL vì không bán được gạo.
Tại kỳ họp này, các đại biểu Quốc hội đã đề nghị: khi điều chỉnh các sắc thuế, phải thông qua Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo quy định của Hiến pháp.
Đồng thời, các sắc thuế phải được ổn định tối thiểu là trong năm để các doanh nghiệp định liệu được kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình.
Bà Phạm Thị Loan:
Vấn đề này cũng đã được bàn thảo trong các cuộc thảo luận của Quốc hội. Chúng tôi không đồng tình với việc chính sách thuế cứ thay đổi thường xuyên. Tuy nhiên trước đây, chưa đưa vào luật về quy định thẩm quyền thay đổi biểu thuế nên Chính phủ vẫn tự thay đổi theo từng kỳ.
Hiện nay, Quốc hội đang thảo luận đưa ra yêu cầu về thẩm quyền quyết định tăng giảm thuế phải là thẩm quyền của Quốc hội. Nếu được thông qua tôi tin là sẽ giải quyết được vấn đề thường xuyên thay đổi thuế.
Vũ Anh Huy:
Tôi muốn hỏi hai đại biểu trực tiếp quản lý doanh nghiệp, chính sách tăng lương sẽ áp dụng vào đầu năm 2009, đặt ra cho các doanh nghiệp gánh nặng chi phí đầu vào trong khi tình hình sản xuất kinh doanh rất khó khăn. Dư luận cho rằng sẽ có một đợt sa thải lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước. Các đại biểu nhận định thế nào? Có biện pháp nào để tránh điều này xảy ra? Trân trọng cảm ơn.
Ông Nguyễn Văn Thời:
Nhà nước điều chỉnh mức lương tối thiểu là vấn đề đương nhiên phải làm, vì lạm phát của Việt Nam ở mức quá cao, khiến người lao động bị mất đi rất nhiều trong số tiền lương họ nhận được (tối thiểu bằng mức lạm phát 24% hiện nay).
Về phía doanh nghiệp, tôi cho rằng, doanh nghiệp nào định lượng được trước được việc tăng lương, thì vấn đề này sẽ không gây trở ngại lớn. Doanh nghiệp nào không tính toán để giảm các khoản mục chi phí khác thì sẽ khó khăn.
Về phần mình, tôi đã định lượng trước được vấn đề này. Do đó, sẽ không có chuyện sa thải công nhân. Ngược lại, tôi vẫn tiếp tục mở thêm nhà máy và thu hút thêm lao động vào làm việc.
Bà Phạm Thị Loan:
Việc tăng lương theo quy định của Nhà nước chắc chắn sẽ có một số ảnh hưởng nhất định đến các doanh nghiệp, đặc biệt là trong thời kỳ khó khăn như hiện nay. Tuy nhiên, luật đã ban hành thì doanh nghiệp sẽ phải thực hiện. Tôi tin là các doanh nghiệp cũng sẽ vượt qua được thử thách này. Còn về việc sa thải công nhân do chính sách tăng lương thì theo tôi không đến mức như vậy.
Vấn đề sa thải ở đây liên quan đến vến đề tài khóa thắt chặt và tiền tệ thắt chặt công với khó khăn khách quan trên thế giới thì đúng hơn. Vì hiện nay chính sách tiền tệ thắt chặt đã được thực hiện một cách thiếu linh hoạt dẫn đến nhiều doanh nghiệp lao đao, không vay được vốn để thực hiện hợp đồng và đầu tư dự án, lãi suất tăng cao không đủ bù đắp chi phí và bị thua lỗ, buộc các doanh nghiệp phải cơ cấu lại tổ chức, giảm bớt sản xuất kinh doanh, nhiều dự án bị đắp chiếu nằm chờ cho nên việc sa thải là không tránh khỏi.
Huỳnh Phước Trung:
Việc đưa chủ trương ngừng xuất khẩu gạo tại thời điểm giá trên thị trường thế giới đang cao đã gây thiệt hại cho người trồng lúa và doanh nghiệp xuất khẩu gạo. Có ý kiến cho rằng nguyên nhân vì cách tính dự trữ lương thực theo đầu người và được tính theo chỉ tiêu cũ. Hiện nay tiêu thụ gạo của người Việt Nam không nhiều như trước nữa nên cần tính lại. Quan điểm của các vị đại biểu như thế nào?
Ông Nguyễn Đức Kiên:
Việc nhận xét chủ trương chưa phù hợp cần phải nhìn một cách khách quan, hai chiều.
Trước hết, nói về vấn đề xuất khẩu thì bao giờ cũng liên quan đến hợp đồng ngoại (khách hàng mua), thủ tục thanh toán, thủ tục giao hàng (FOP hay CIF) và thời hạn giao hàng.
Trong tình hình nước ta hiện nay, các doanh nghiệp đầu mối xuất khẩu gạo đều ký hợp đồng từ đầu năm để đảm bảo có thị trường, khả năng thu mua, bảo quản và dự trữ bị hạn chế cả về vốn và về cơ sở hạ tầng.
Mặt khác, hệ thống thu mua lúa gạo cũng đang tồn tại những bất cập nên khó có thể đáp ứng được yêu cầu là ký được hợp đồng xuất khẩu gạo ngay tại thời điểm giá cao.
Đứng về mặt an ninh lương thực trong bối cảnh miền Bắc vừa bị rét đậm, rét hại nặng nề nhất trong vòng 40 năm qua, miền Trung bị lũ lụt nặng nề nên khó có thể dự báo là được mùa, đảm bảo lương thực cho nhân dân. Vì vậy, việc ra quyết định không ký hợp đồng xuất khẩu gạo mới cho đến khi thu hoạch vụ đông xuân là có thể lý giải được.
Vấn đề ở đây là hai doanh nghiệp đầu tàu trong lĩnh vực xuất khẩu gạo của miền Nam là Tổng công ty Lương thực miền Bắc và Tổng công ty Lương thực miền Nam không phản ứng kịp với các diễn biến của thị trường, không có mối liên hệ chặt chẽ với nguồn dự trữ gạo trong nông dân nên không có nguồn gạo dự trữ để có thể tận dụng được cơ hội.
Về cơ bản, mức tiêu thụ lương thực của hơn 70% người dân Việt Nam vẫn còn rất cao bởi vì cơ cấu bữa ăn chưa được cải thiện, chất lượng bữa ăn cũng chưa đáp ứng được với yêu cầu.
Còn một bộ phận nhỏ có thu nhập cao ở thành phố đã đổi mới cơ cấu bữa ăn, sử dụng thực phẩm có lượng calo lớn nên lượng lương thực (gạo) giảm so với mặt bằng chung của cả nước và so với thời kỳ bao cấp.
Vì vậy, ít có nhà hoạch định chính sách vĩ mô nào lại đủ can đảm đưa ra con số dự báo trong dự trữ quốc gia lượng lương thực của nhóm người có thu nhập cao vào trong tính toán như là nhu cầu của toàn dân.
Thái Văn Toản:
Vừa qua có nhiều ý kiến về lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa đang gặp khó khăn. Vậy đã có một nghiên cứu cụ thể nào để hiểu rõ vấn đề và tìm cách tháo gỡ. Tôi nghĩ Chính phủ cần phải có những biện pháp cụ thể hơn chứ dừng lại ở 8 nhóm giải pháp chung chung thì khó có thể đánh giá hiệu quả điều hành đến đâu. Các đại biểu có ý kiến thế nào?
Ông Nguyễn Đức Kiên:
Về vấn đề doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh, tôi xin cải chính lại là không chỉ có doanh nghiệp vừa và nhỏ mà cả những doanh nghiệp lớn trong tình hình kinh tế như hiện nay đều gặp khó khăn. Tuy nhiên, mức độ khó khăn có khác nhau, tùy theo khả năng tài chính của từng doanh nghiệp.
Trong thời gian vừa qua, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ và Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cũng đã tổ chức các buổi làm việc để lắng nghe ý kiến của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ ở hai miền Nam, Bắc trước khi hình thành báo cáo thẩm tra năm 2008 trình Quốc hội.
Trước ngày kỷ niệm ngày doanh nhân Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cũng đã gửi phiếu điều tra theo mẫu đến một số doanh nghiệp. Tất nhiên, một nghiên cứu đầy đủ về tình hình khó khăn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất cần thiết nhưng cần phải có một quỹ thời gian thích hợp. Vì vậy, việc đặt ra các mục tiêu cụ thể để điều tra trong bối cảnh nền kinh tế đang biến động từng ngày cũng tiềm ẩn những sai số lớn.
Về 8 nhóm giải pháp đã được Quốc hội và Chính phủ thông qua tại kỳ họp thứ ba thì cần phải hiểu là đây là nhóm giải pháp vĩ mô, các chính sách cụ thể áp dụng cho từng đối tượng sẽ do các bộ theo chức năng, nhiệm vụ của mình xây dựng, trình Chính phủ ban hành.
Ví dụ như: trường hợp điều chỉnh lãi suất ngân hàng trong 8 nhóm giải pháp không quy định mức lãi suất tiền gửi bắt buộc là bao nhiêu phần trăm nhưng Ngân hàng Nhà nước theo chức năng, nhiệm vụ của mình đã nâng mức lãi suất từ 1,2% lên 3,6% lên 5% và hiện nay là 10% để phù hợp với tình hình kinh tế của đất nước và đảm bảo cho hệ thống ngân hàng thương mại hoạt động ổn định.
Việt Lữ:
Doanh nghiệp chúng tôi đã bị thiệt hại do biến động tỷ giá hồi đầu năm nay, ảnh hưởng rất nhiều đến lợi nhuận và hoạt động sản xuất kinh doanh. Xin hỏi vì sao không công bố thường xuyên các con số về cán cân thanh toán quốc tế, nợ nước ngoài, dự trữ ngoại hối…?
Ông Nguyễn Đức Kiên:
Nói về biến động của tỷ giá trong những tháng đầu năm nay, tuyệt đại đa số các doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu đều cho rằng tỷ giá biến động do yếu tố đầu cơ và tâm lý.
Những doanh nghiệp mà người điều hành chưa “đủ tầm” thì thường bị thiệt hại lớn vì cùng một điều kiện tác động nếu xử lý bằng cảm tính, bằng tâm lý “bầy đàn” mà bỏ quên yếu tố khoa học trong các vấn đề kinh tế thì thiệt hại cho doanh nghiệp bao giờ cũng lớn.
Trước tình hình tâm lý không ổn định của một số nhà đầu tư, doanh nghiệp, Chính phủ đã chỉ đạo công bố công khai dự trữ ngoại hối, cán cân thanh toán của quốc gia. Đây là lần đầu tiên chúng ta công bố những thông tin loại này trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Theo tôi đánh giá đây là một bước chuyển rất quan trọng trong tư duy điều hành vĩ mô, vì doanh nghiệp, đảm bảo cho doanh nghiệp ổn định. Có thể do đây là lần đầu công bố nên lượng thông tin chưa đến được nhanh đối với những người có yêu cầu hoặc giả chưa đáp ứng được yêu cầu thông tin của doanh nghiệp thì cũng là điều dễ hiểu.
Các doanh nghiệp, các nhà quản lý phải ngồi lại với nhau, cùng bàn bạc để có những quyết sách phù hợp với thông lệ quốc tế, yêu cầu của doanh nghiệp nhưng không làm ảnh hưởng đến việc điều hành vĩ mô của đất nước.
Nhiều bạn đọc:
Kinh tế vĩ mô đã có những chuyển biến, lạm phát cũng đang hạ nhiệt. Vậy theo các đại biểu, thời điểm này đã nên nới lỏng hơn chính sách tiền tệ chưa? Làm thế nào để các doanh nghiệp tiếp cận vốn ngân hàng thuận lợi hơn?
Ông Nguyễn Văn Thời:
Theo tham luận của đại biểu Quốc hội Cao Sỹ Kiêm, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và đại biểu Trần Du Lịch, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Tp.HCM, thời điểm này, đã đến lúc phải nới lỏng chính sách tiền tệ để các doanh nghiệp trong nước, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ được tiếp cận dễ dàng hơn với các nguồn tín dụng.
Đa số đại biểu đều đồng tình với tham luận này của ông Cao Sỹ Kiêm và ông Trần Du Lịch, đồng thời kiến nghị với Chính phủ phải đưa ra những giải pháp hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ vay vốn.
Cụ thể, một số đại biểu kiến nghị với Chính phủ dành một quỹ để bảo lãnh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ được vay vốn thông qua Ngân hàng Phát triển và Ngân hàng Chính sách xã hội.
Nguyễn Hồng Chuẩn:
Xin hỏi ba vị đại biểu, Bộ Tài chính và Bộ Công thương đã ra quyết định điều hành xăng dầu theo cơ chế thị trường. Tuy nhiên thời gian vừa qua giá dầu trên thế giới đã giảm rất nhiều so với đỉnh điểm lúc 147USD/thùng, nhưng các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu luôn có lý do rằng do chưa nhập được nguồn xăng rẻ, điều này gây cho người tiêu dùng nhiều bức xúc. Vậy phải chăng các doanh nghiệp đã thực hiện theo cơ chế thị trường?
Ông Nguyễn Văn Thời:
Về vấn đề này, rất nhiều đại biểu đã tham luận và kiến nghị Chính phủ phải kiểm tra, giám sát các đơn vị kinh doanh xăng dầu.
Tôi cho rằng, các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu vẫn chưa thực hiện theo cơ chế thị trường. Khi xăng dầu thế giới tăng giá, các doanh nghiệp đòi tăng giá. Nhưng khi giá xăng dầu thế giới xuống, các doanh nghiệp lại không chịu giảm giá. Điều này không công bằng đối với người tiêu dùng.
Tất nhiên, khi giá xăng dầu thế giới xuống, thì các doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng này trong nước có thể có một độ trễ về thời gian để giảm giá, nhưng độ trễ đó không thể kéo quá dài được. “Độ trễ” kéo dài thời gian chưa giảm giá như hiện nay là chưa hợp lý.
Về vấn đề này, thái độ của các đại biểu Quốc hội rất kiên quyết. Chúng tôi kiến nghị Chính phủ phải kiểm tra, giám sát, yêu cầu các doanh nghiệp xăng dầu phải giảm giá.
Trần Bích Vân:
Chào chị Loan, trước những kiến nghị của cử tri nói chung và cử tri - doanh nhân nói riêng, có khi nào chị cảm thấy lực bất tòng tâm không?
Bà Phạm Thị Loan:
Thực lòng nhiều khi cũng thấy "lực bất tòng tâm" vì ý kiến của mình chỉ là một ý kiến, trong khi vấn đề mình muốn giải quyết lại cần cả hệ thống tham gia.
Lê Hoa:
Cho cháu hỏi chú Thời, làm đại biểu quốc hội hay làm Tổng giám đốc khó hơn?
Ông Nguyễn Văn Thời:
Làm giám đốc đã khó rồi, nhưng làm đại biểu Quốc hội còn khó khăn hơn.
Thứ nhất, là đại biểu Quốc hội, tôi phải tổng hợp được những tâm tư nguyện vọng của cử tri để phản ánh lên Quốc hội. Thứ hai, tôi phải tham gia xây dựng luật cho phù hợp với thực tiễn của đất nước.Thứ ba, tôi phải thực hiện được công tác giám sát tối cao của Quốc hội theo các nghị quyết của Quốc hội.
Đây là những vấn đề rất khó đối với tôi, nhưng tôi không có cách nào khác ngoài việc phải học tập, trau dồi kiến thức để đáp ứng nhiệm vụ của người đại biểu Quốc hội.
Đặc biệt, trong thời điểm hiện nay, diễn biến tình hình kinh tế thế giới và trong nước rất phức tạp, điều quan trọng mà các đại biểu Quốc hội phải làm là góp phần cùng với Chính phủ đưa ra những quyết sách để ổn định kinh tế vĩ mô và giảm thiểu lạm phát, góp phần tránh sự đổ vỡ cho các doanh nghiệp và ổn định đời sống nhân dân.
Vũ Thị Thảo:
Chào chị Loan, khi xem chương trình Người đương thời trên VTV tôi rất ấn tượng với sự đúc kết “cố lên một tí - mọi chuyện sẽ qua” của chị để động viên mọi người cùng vượt qua những sóng gió trong cuộc sống và trên con đường kinh doanh. Vậy tôi xin hỏi đây có phải là thời điểm mà chị phải sử dụng nhiều lần câu nói này?
Bà Phạm Thị Loan:
Bây giờ thì không phải chỉ là "cố lên một tý" mà phải dốc toàn lực.
Hiện nay tôi đang phải động viên toàn thể lãnh đạo cán bộ công nhân viên Tập đoàn Việt Á dốc toàn tâm, toàn lực để cứu lấy tập đoàn mình trong cơn "bão táp" thế này.
Xin cám ơn những chia sẻ của bạn!
Phan Quang:
Tôi muốn chuyển câu hỏi này đến đại biểu Phạm Thị Loan, Ủy viên Ủy ban Tài Chính và Ngân sách của Quốc hội. Phân bổ ngân sách hàng năm đều dành khoản chi khá lớn cho ngành giáo dục, trong đó có đề cập đến việc nguồn chi này tăng tỷ lệ với sự phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên, chất lượng đào tạo lại phát triển không tương xứng. Hầu hết các doanh nghiệp khi tuyển dụng đều phải tự đào tạo lại. Nhiều người được đào tạo với đầy đủ bằng cấp nhưng ra làm việc lại không thể đáp ứng được yêu cầu. Vậy xin hỏi ngân sách chi nhiều nhưng lại không quản lý hiệu quả khoản chi thì có nên tăng chi cho giáo dục?
Bà Phạm Thị Loan:
Tôi rất đồng tình với câu hỏi, bản thân tôi cũng tự đặt câu hỏi là tại sao năm nào cũng chi đầu tư cho giáo dục nhiều hơn các ngành khác như vậy và tỷ lệ đầu tư năm sau cứ cao hơn năm trước.
Nhưng hiệu quả đến đâu thì chưa thấy có bản báo cáo nào cả. Chỉ thấy rằng, chất lượng sinh viên ra trường chưa đáp ứng được yêu cầu công việc, phần lớn phải đào tạo lại. Tình trạng vi phạm phát luật, vi phạm đạo đức xã hội ở lứa tuổi thanh thiếu niên ngày càng gia tăng. Nhưng không ai dám nói là phải cắt giảm đầu tư cho giáo dục vì ai cũng thấy tầm quan trọng của giáo dục là rất lớn.
Tuy nhiên, tôi thấy cũng cần phải xem xét lại một cách nghiêm túc hiệu quả đầu tư trong giáo dục. Và phải tự hỏi tại sao ngày xưa cơ sở vật chất nghèo nàn nhưng chất lượng giáo dục thì lại rất tốt. Phải chăng việc đầu tư chưa đúng đối tượng?
Theo tôi, cần phải đầu tư trực tiếp cho người học và người dạy trước khi cho đầu tư cơ sở vật chất, đồng thời phải tính đến đầu tư giáo dục toàn dân, toàn diện và phải xem lại các nội dung, chương trình giáo dục cho từng lứa tuổi phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế xã hội trong nước và quốc tế.
Mặt khác, phải phối hợp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Vì một khía cạch nào bị khập khiễng cũng sẽ dẫn đến sản phẩm giáo dục đào tạo bị khập khiễng.
Hơn nữa, tôi quan tâm đến vấn đề giáo dục văn hóa truyền thống đảm bảo giữ được thuần phong mỹ tục của dân tộc và phải quan tâm đến vấn đề "tiên học lễ, hậu học văn" cho mọi cấp.
Còn về hiệu quả sử dụng vốn ngân sách cho giáo dục, theo tôi cần rà soát lại hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước trong thời gian qua, đồng thời ngành giáo dục cần có quy hoạch ngành tổng thể để xác định trật tự ưu tiên đầu tư và có kế hoạch kêu gọi đầu tư cũng như áp dụng chính sách xã hội hóa, giảm đầu tư từ ngân sách mà vẫn có hiệu quả.
Hung:
Chưa phải doanh nghiệp lớn, hàng dệt may chủ yếu xuất khẩu sang những nước đang bị ảnh hưởng khá nặng nề từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, doanh nghiệp của ông Thời chắc cũng đang gặp rất nhiều khó khăn? Nếu khó khăn thì ông có thể cho biết giải pháp vượt qua thế nào?
Ông Nguyễn Văn Thời:
Ở thị trường xuất khẩu, hiện doanh nghiệp của tôi phải đối mặt với khó khăn từ việc sức mua thị trường giảm, giá bán sản phẩm đi xuống, và rủi ro trong thanh toán tăng.
Về giải pháp, chúng tôi phải tiết kiệm chi phí một cách tối đa và nâng cao năng lực quản lý để tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh cao. Như thế, mới giữ được khách hàng.
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đẩy mạnh công tác tìm kiếm khách hàng mới và thị trường mới để đa dạng hóa thị trường nhằm giảm thiểu rủi ro. Một số thị trường mà chúng tôi chú trọng là thị trường Nga và Đông Âu.
Ngoài ra, chúng tôi cũng mở rộng tiêu thụ tại nội địa.
Trong vấn đề thanh toán, chúng tôi phải thông qua các ngân hàng lớn trong nước để thẩm tra ngân hàng mà nhà nhập khẩu mở L/C, để xem ngân hàng đó có đủ độ tin cậy hay không. Nếu không đảm bảo độ tin cậy, chúng tôi phải từ chối.
Kết quả sản xuất kinh doanh 9 tháng qua của đơn vị tôi vẫn đạt được kế hoạch đề ra, cả về doanh thu và lợi nhuận.
Nếu quan tâm, bạn có thể xem kết quả kinh doanh của chúng tôi tại website của đơn vị tại www.tng.vn, hoặc website của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, tìm đến mã chứng khoán TNG, bạn sẽ có đủ thông tin về tình hình tài chính và kinh doanh của chúng tôi.
Thu Ha:
Xin được hỏi ông Thời, từ khi trở thành đại biểu Quốc hội, ông có thấu hiểu tâm tư nguyện vọng của cử tri là chính những công nhân may đang làm việc tại công ty ông không?
Ông Nguyễn Văn Thời:
Tôi rất thấu hiểu nguyện vọng của công nhân làm việc tại đơn vị chúng tôi, cũng như công nhân làm việc tại các đơn vị khác. Tôi biết là thu nhập của họ hiện nay chưa được cao, thời gian làm việc đôi lúc còn kéo dài, và vấn đề nhà ở còn khó khăn.
Về phía doanh nghiệp, tôi luôn luôn đặt lợi ích của người lao động lên hàng đầu, vì có người lao động, thì doanh nghiệp của tôi mới tồn tại và tôi mới thu được lợi nhuận. Do đó, tôi phải làm hết sức mình để đáp ứng được tâm tư nguyện vọng của người lao động và cũng là cử tri bỏ lá phiếu cho tôi làm đại biểu Quốc hội.
Về giải pháp cụ thể, thời gian qua, tôi đã tăng lương cho công nhân, hỗ trợ xe đưa đón công nhân đi làm, hỗ trợ tiền ăn giữa ca, xây thêm nhà tập thể cho công nhân, và thực hiện đúng tất cả các chính sách, chế độ của Nhà nước đối với người lao động.
Ngoài ra, chúng tôi còn mua thêm bảo hiểm thân thể cho người lao động, và làm nhà tình nghĩa cho các công nhân có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Năm ngoái, chúng tôi đã xây được 3 nhà tình nghĩa, giá trị mỗi nhà trên 30 triệu đồng. Năm nay, chúng tôi dự kiến sẽ xây thêm 7 nhà tình nghĩa. Xét đợt 1 vừa qua đã được 3 nhà, đợt 2 đang tiến hành xét tiếp.
Bản thân tôi, mỗi tháng tôi trích 2% tiền lương để đóng góp vào Quỹ Tình nghĩa của công ty. Đầu năm nay, cá nhân tôi đã góp 30 triệu từ tiền thưởng để làm nhà tình nghĩa.
Những hoạt động này đã tạo nên văn hóa doanh nghiệp của chúng tôi, góp phần tăng thêm mối gắn kết giữa người lao động với công ty. Do vậy, tỷ lệ biến động lao động của chúng tôi trong thời gian qua là rất thấp, trong khi tỷ lệ này ở một số doanh nghiệp khác trong ngành, nhất là ở phía Nam, là rất cao.
Hoài Phương:
Xin hỏi chị Loan, các đại biểu là doanh nhân trong Quốc hội có sự gắn kết với nhau như thế nào để thực hiện vai trò đại biểu - doanh nhân tốt nhất?
Bà Phạm Thị Loan:
Đội ngũ doanh nhân luôn luôn đồng tiếng nói, đồng quan điểm, gắn bó với nhau và rất hiểu nhau, đặc biệt trong lúc này. Chúng tôi vẫn thường tổ chức thảo luận và đã thành lập nhóm nghị sỹ doanh nhân.
Chúng tôi sẽ cùng chia sẻ với nhau để đóng góp ý kiến vào các dự luật đảm bảo hài hòa lợi ích giữa Nhà nước và doanh nghiệp.
Vũ Thị Xuân:
Hiện nay, bộ phận quản lý thị trường của nhà nước rất nhũng nhiễu các doanh nghiệp . Có cách nào khống chế bộ phận này được không?
Ông Nguyễn Văn Thời:
Việc này sẽ khắc phục được ngay. Nếu doanh nghiệp chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về nhãn mác hàng hóa, về xuất xứ hàng hóa, về chất lượng sản phẩm thì quản lý thị trường làm sao nhũng nhiễu được!
Ngoc116@yahoo.com:
Chào chị Loan, xin chúc chị có nhiều sức khỏe để lãnh đạo doanh nghiệp vượt qua khó khăn lúc này. Xin hỏi kỳ họp này chị có dự định sẽ chất vấn vấn đề gì? bên cạnh những vấn đề của cộng đồng là doanh nghiệp chị có dự định sẽ chất vấn vấn đề gì liên quan đến cuộc sống của đông đảo cử tri?
Bà Phạm Thị Loan:
Tôi đã gửi chất vấn 3 vấn đề:
1. Cơ chế tháo gỡ khó khăn và hỗ trợ những doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản.
2. Trách nhiệm đối với việc sử dụng vốn Nhà nước thiếu hiệu quả.
3.Chủ trương về quy hoạch tổng thể đất nước, quy hoạch vùng miền, quy hoạch ngành và chính sách ưu tiên đầu tư dự án, chính sách phân cấp, phân kỳ, phân loại đầu tư.
Hai vấn đề đầu đã được trả lời, chỉ còn một vấn đề thứ 3 vẫn chưa nhận được câu trả lời.
Tuy nhiên, các câu trả lời vẫn chưa thỏa mãn như mong muốn.
L.T.Oanh:
Tôi nhớ có lần bà Loan nói trên báo rằng, để cải thiện môi trường kinh doanh thì cần “cải cách” về con người. Trong chương trình kỳ họp lần này có thảo luận về dự án Luật Cán bộ công chức, vậy bà có đóng góp gì vào dự thảo luật này để doanh nghiệp dễ dàng hơn khi qua “cửa” các cơ quan nhà nước? Xin cảm ơn.
Bà Phạm Thị Loan:
Yếu tố con người là cốt lõi của mọi vấn đề. Nếu mọi thứ tốt nhưng con người chưa tốt thì cũng sẽ làm hỏng hết mọi thứ. Do vậy, theo tôi muốn vận hành một đất nước tốt thì phải có những con người trong bộ máy điều hành đủ phẩm chất, trình độ để điều hành nó. Muốn vậy, thì cần phải quan tâm đến vấn đề con người.
Trong kỳ họp này có đưa ra thảo luận cho ý kiến về Luật Cán bộ công chức. Tôi mong là phần nào giải quyết được vấn đề. Tuy nhiên, để hoàn thiện Luật cũng cần có thời gian, mặt khác từ Luật cho đến thực tiễn thì còn cả một khoảng cách rất xa.
Tôi hy vọng mọi người cùng quan tâm thực hiện.
Một phóng viên:
Tại kỳ họp trước, bà Loan cho biết có văn bản gửi Ủy ban kinh tế của Quốc hội yêu cầu tăng cường giám sát hiệu quả sử dụng vốn ngân sách của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Vậy kiến nghị của bà đã được tiếp nhận thế nào và giải quyết đến đâu, thưa bà, trong khi đây vẫn đang là một vấn đề nóng?
Bà Phạm Thị Loan:
Tôi rất mừng là kiến nghị của tôi đã được Chủ tịch Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội quan tâm, chính vì thế mà vấn đề đã được đưa ra bàn thảo nhiều trong các cuộc họp của các ủy ban và trong Quốc hội.
Hiện nay, các ủy ban cũng đang có kế hoạch giám sát từng phần, tuy nhiên chưa đưa kết luận cuối cùng nào. Mặc dù vậy, tôi cũng thấy hài lòng là vấn đề đã được quan tâm thiết thực. Tôi hy vọng Chính phủ và nhân dân cũng sẽ quan tâm và đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước cũng phải thấy được trách nhiệm của mình trước nhân dân.
Trinh Thi My:
Xin hỏi các đại biểu có muốn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân không? các đại biểu sẽ định làm như thế nào để thuế suất giảm xuống?
Ông Nguyễn Đức Kiên:
Khi thảo luận về thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân các đại biểu Quốc hội đều thống nhất quan điểm là: Thuế là để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đảm bảo dân giàu nước mạnh. Vì vậy, chính sách thuế được xây dựng trên cơ sở “ nuôi dưỡng” nguồn thu. Trong lần này đã quyết định giảm thuế thu nhập doanh nghiệp từ 28% xuống 25%.
Nguyễn Cường:
Một số công ty môi giới chứng khoán lớn đang bên bờ vực phá sản. Đề nghị các đại biểu Quốc hội cho biết Quốc hội đã lường trước được hậu quả ảnh hưởng đối với nền kinh tế Việt Nam các công ty trên lâm vào tình trạng này, nhất là trong bối cảnh có những công ty ở bên Mỹ chẳng liên quan gì đến Việt Nam phá sản cũng làm cho nhà đầu tư Việt Nam khốn đốn?
Ông Nguyễn Đức Kiên:
Qua câu hỏi chứng tỏ bạn là người am hiểu sâu sắc về thị trường chứng khoán của nước ta. Đến nay các đại biểu Quốc hội cũng như ủy ban Kinh tế của Quốc hội chưa nhận được thông tin chính thức của Bộ Tài chính và Ủy ban chứng khoán Nhà nước về việc các công ty môi giới chứng khoán đang đứng bên bờ phá sản.
Chúng tôi sẽ chuyển cảnh báo của bạn tới Ủy ban Chứng khoán Nhà nước là cơ quan được giao nhiệm vụ quản lý về chứng khoán.
Một bạn đọc:
Nếu có đại biểu Quốc hội nào đó chỉ ngồi, lắng nghe, gật, và bấm nút... như một cái máy, thì người đó có nên từ nhiệm không, thưa các đại biểu Quốc hội?
Ông Nguyễn Văn Thời:
Tôi tin rằng không có đại biểu Quốc hội khóa 12 nào như bạn mô tả.
Bà Phạm Thị Loan:
Để được bầu là đại biểu Quốc hội là rất khó khăn và qua nhiều thử
thách. Mặt khác, cử tri luôn luôn trông đợi những đại biểu mình bầu
phải đại diện cho tiếng nói của nhân dân, lợi ích hợp pháp của nhân
dân.
Nếu không đáp ứng được những kỳ vọng này thì cũng không nên làm đại biểu Quốc hội.
Trần Văn Toàn:
Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ IV đang thảo luận về luật sửa đổi luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt, tôi xin có một số câu hỏi như sau:
- Theo tôi được biết, hầu hết các bộ luật đều đưa ra tiêu chí rõ ràng về đối tượng chịu thuế, tuy nhiên riêng luật thuế tiêu thụ đặc biệt từ trước tới nay thì các tiêu chí chưa được rõ ràng (chung chung rằng không khuyến khích tiêu dùng, hạn chế tiêu dùng, xa xỉ...) dẫn đến sự khó khăn hoặc chưa đúng trong việc xác định đối tượng. Điều này dường như vẫn chưa được giải quyết trong luật sửa đổi?
- Nếu xét theo tiêu chí như trong luật thì một số mặt hàng sẽ không còn phù hợp nữa cần phải cân nhắc loại ra khỏi danh mục chịu thuế tiêu thụ đặc biệt như mặt hàng điều hòa, bia, đặc biệt là bia hơi vì rõ ràng các mặt hàng này không còn là xa xỉ, và cũng không nên hạn chế tiêu dùng, thậm chí ngược lại.
- Hầu hết các nước không đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với bia hoặc đánh rất thấp (dưới 30%) nhưng nước ta lại áp dụng thuế suất quá cao, kể cả trong dự thảo sửa đổi lần này, nếu vẫn coi bia (4 đến 5 độ cồn) là mặt hàng phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt (chắc rằng được áp dụng bởi tiêu chí hạn chế tiêu dùng do ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe nếu dùng nhiều) thì tại sao mức thuế suất áp dụng lên tới 45%, 50% trong khi mặt hàng rượu với nồng độ rất cao thì áp dụng mức thuế suất 20% (rượu 20 độ cồn)?
Ông Nguyễn Văn Thời:
Thuế tiêu thụ đặc biệt của mặt hàng bia, rượu thì nước ta áp dụng theo chuẩn của biểu thuế trong cam kết tham gia WTO nên không thể khác được.
Điều này cũng đã được các đại biểu Quốc hội thảo luận và cho ý kiến rất nhiều nhưng ban soạn thảo và trực tiếp là đồng chí Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội đã trả lời rằng “chúng ta không thể làm khác được”, mặc dù đã xem xét đến rất nhiều ý kiến của các nhà sản xuất bia và Hiệp hội Rượu - Bia - Nước giải khát gửi tới.
Còn về mặt hàng điều hòa nhiệt độ cũng được các đại biểu Quốc hội tham gia ý kiến rất nhiều, nhưng đa số đại biểu đại diện cho các cử tri ở vùng nông thôn và miền núi thì coi đây vẫn là hàng hóa xa xỉ (đối với nước ta, 70% người dân vẫn sống ở vùng nông thôn), do đó, theo tôi, mặt hàng điều hòa nhiệt độ đưa vào diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là đúng.
Bà Phạm Thị Loan:
Bất kỳ một dự luật nào đưa ra đều phải có mục tiêu, tiêu chí của nó. Dự luật sửa đổi luật thuế tiêu thụ đặt biệt cũng vậy, trong đó bao gồm mục tiêu định hướng sản xuất, định hướng tiêu dùng, điều tiết thu nhập, cân đối nguồn thu cho ngân sách, phù hợp với các cam kết quốc tế...
Do vậy, có những sản phẩm không phải hàng xa xỉ nhưng lại thuộc những mặt hàng điều tiết thu nhập hoặc là định hướng sản xuất, tiêu dùng hoặc là đảm bảo cân đối nguồn thu ngân sách, phù hợp với các cam kết quốc tế...
Mặt hàng điều hòa không phải là mặt hàng xa xỉ nữa và cũng đã có nhiều ý kiến đề nghị loại ra khỏi danh sách chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Tuy nhiên, theo ý kiến của tôi thì không nên đánh thuế điều hòa cao nhưng cũng chưa nên loại ra khỏi danh mục chịu thuế tiêu thụ đặc biệt vì đây là sản phẩm chỉ những người có thu nhập khá trở lên mới mua được. Còn nông dân bình thường và những người thu nhập thấp vẫn chưa mua được. Hơn nữa, máy điều hòa cũng đang góp phần làm ảnh hưởng đến môi trường và tiêu tốn nhiều năng lượng điện, trong khi cả nước đang kêu gọi tiết kiệm điện.
Đối với mặt hàng bia thì theo cam kết quốc tế khi gia nhập WTO, tất cả các loại bia chỉ cùng một loại thuế suất, do vậy không thể tách thành nhiều mức thuế được. Mặt khác, bia cũng là một hàng hóa không phải ai cũng có thể mua uống thường xuyên được và cũng không phải là mặt hàng khuyến khích sử dụng.
Hơn nữa, đây là một nguồn thu lớn cho ngân sách từ trước đến nay. Nếu ta không thu thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc thu thấp hơn đối với mặt hàng này thì ngân sách sẽ giảm thu một lượng lớn, sẽ không đủ nguồn ngân sách cho những nhiệm vụ chi khác của đất nước. Với mức thuế suất đề xuất như hiện nay thì đã làm giảm thu ngân sách hàng năm lên đến 1.200 tỷ đồng.
Đối với rượu, thực tế lượng tiêu thụ không nhiều và theo quan điểm của tôi thì cũng nên tăng thuế tương đương hoặc cao hơn đối với mặt hàng bia. Tuy nhiên cũng cần phải xem xét đến yếu tố cam kết quốc tế.
Tạ Bích Loan:
Xin chào anh Thời, chị Loan. Các anh chị nói là doanh nhân phải biết kinh tế vĩ mô. Nhưng hình như phần lớn các doanh nhân của chúng ta không nhận thức được như vậy. Anh chị bình luận gì về vấn đề này?
Ông Nguyễn Văn Thời:
Tôi cho rằng đã là doanh nhân trong thời buổi kinh tế thị trường, hòa nhập toàn cầu hiện nay mà không hiểu biết kinh tế vĩ mô thì rất khó cho việc quản lý, quản trị và đưa doanh nghiệp phát triển.
Bởi vì, hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp nói riêng và đất nước nói chung luôn chịu tác động của diễn biến kinh tế toàn cầu và biến động của thị trường trong nước.
Cho nên, việc hiểu biết kinh tế vĩ mô là bắt buộc của mỗi doanh nhân.
Ví dụ như ngành thép, gạo, vì không dự báo đúng tình hình kinh tế của thế giới nên đã gây ra thiệt hại cho các doanh nghiệp sản xuất thép và người dân sản xuất gạo.
Bà Phạm Thị Loan:
Ý kiến của chị cũng đúng một phần.
Có nhiều doanh nhân ít hiểu biết về kinh tế vĩ mô và chỉ quan tâm đến lợi ích cục bộ của doanh nghiệp mình. Tuy nhiên, cũng có những doanh nhân hiểu biết về kinh tế vĩ mô và đã đưa ra nhiều ý kiến xác đáng, đóng góp cho các cơ chế chính sách chung của đất nước. Vấn đề còn lại là khả năng áp dụng được ở mức độ nào.
Phan Hoài Nam:
Xin được hỏi bà Loan. Kiềm chế lạm phát vẫn được xác định là ưu tiên số 1 trong giai đoạn hiện nay. Bên lề kỳ họp trước, bà đã từng trả lời phỏng vấn báo chí là “Các ngân hàng là đối tượng làm rối hơn cuộc chiến chống lạm phát”. Tại thời điểm này bà vẫn giữ nguyên quan điểm đó? Xin bà nói rõ hơn về cái sự “làm rối” của các ngân hàng?
Bà Phạm Thị Loan:
Theo tôi nhớ thì tôi chưa bao giờ nói: “Các ngân hàng là đối tượng làm rối hơn cuộc chiến chống lạm phát”. Tuy nhiên, chính sách thắt chặt tiền tệ hiện nay và việc áp dụng thiếu linh hoạt của các ngân hàng thương mại đang góp phần gây khó khăn thêm cho doanh nghiệp. Thực chất ngân hàng thương mại không hoàn toàn là đối tượng gây lạm phát.
Vấn đề ở chỗ là ngân hàng phải có chính sách tín dụng một cách có trách nhiệm, chia sẻ với doanh nghiệp, tính đến lợi ích lâu dài để giúp doanh nghiệp phát triển bền vững và góp phần giảm lạm phát bền vững - không nên chạy theo lợi ích trước mắt cục bộ của mình.
P.V.Mạnh:
Xin chào các vị đại biểu. Xin được hỏi ông Thời với tư cách là một chủ doanh nghiệp và cũng là đại biểu Quốc hội: Ý kiến của ông thế nào về việc EVN xin tăng giá điện cũng như kế hoạch xin chia thưởng của tập đoàn này? Cám ơn ông.
Ông Nguyễn Văn Thời:
Tôi hoàn toàn không đồng ý với các đề xuất này của EVN.
Thứ nhất, đề nghị EVN công khai giá mua điện năng từ các nhà máy phát điện.
Thứ hai, đề nghị EVN phải công khai chi tiết giá thành bán lẻ điện năng, từ đó mới có căn cứ để đề xuất tăng giá bán điện tới người tiêu dùng.
Thứ ba, về vấn đề xét thưởng, cần thực hiện đúng theo quy định của Bộ Tài chính về việc phân phối lợi nhuận sau thuế.
Văn Hào:
Tôi để ý thấy kỳ họp lần này các đại biểu ít điểm lại những gì đạt được, chưa được, thậm chí mất khi đã gia nhập WTO 2 năm rồi. Các đại biểu có ý kiến gì không? Nếu có thể xin cho những đánh giá chung về vấn đề trên?
Bà Phạm Thị Loan:
Chủ đề về kết quả đạt được và chưa đạt được khi gia nhập WTO sau hai năm quả thật chưa được "mổ xẻ" sâu trong kỳ họp này.
Tuy nhiên, theo tôi nhận thấy thì nó nằm lẫn trong các vấn đề đưa ra bàn bạc, đặc biệt là những ảnh hưởng khách quan trong quá trình hội nhập đã tác động đến nền kinh tế nước ta hiện nay.
Và có thể kỳ họp này có nhiều vấn đề nội địa cần bàn thảo kỹ, do vậy chủ đề hậu WTO ít được để ý hơn.
Văn Thái:
Vừa qua, có khá nhiều ý kiến từ phía doanh nghiệp, thông qua các hiệp hội, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, đưa lên Chính phủ về khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải và hướng tháo gỡ. Khó của doanh nghiệp được đề cập như thế nào trên các diễn đàn Quốc hội và có thể hy vọng được giải quyết thế nào?
Ông Nguyễn Văn Thời:
Cái khó của doanh nghiệp trong thời gian qua là: khó tiếp cận các nguồn vốn tín dụng, lãi suất vay ngân hàng cao, chính sách thuế Nhà nước thay đổi thường xuyên và chất lượng nguồn nhân lực chưa được cao.
Những khó khăn này đã được các đại biểu Quốc hội tham luận tại Hội trường và gửi văn bản kiến nghị lên Chính phủ và đã được Chính phủ đang từng bước khắc phục.
Cụ thể là Ngân hàng Nhà nước đã nới lỏng chính sách tiền tệ, hạ lãi suất cơ bản… tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại giảm lãi suất cho vay. Đồng thời Chính phủ cũng có hướng ổn định các sắc thuế và tăng nguồn vốn đầu tư cho đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Về phía doanh nghiệp, theo tôi cũng nên chủ động tìm cách huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán và các kênh khác, giảm các hạng mục đầu tư, giảm hàng tồn kho, tăng thu hồi công nợ… Điều này sẽ tạo được lưu chuyển dòng tiền tệ tốt, góp phần giảm lệ thuộc vào vốn vay ngân hàng và ảnh hưởng của lãi suất cao.
Doanh nghiệp cũng nên dành một nguồn vốn để cho cán bộ, công nhân đi đào tạo. Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao kỹ năng quản lý sẽ góp phần quản trị doanh nghiệp tốt hơn.
Bà Hoàng Thủy Chung (Phó tổng biên tập VnEconomy):
Trong bối cảnh đất nước đang trong thời kỳ khó khăn nhất định, vai trò của doanh nhân, doanh nghiệp thực sự cần được đẩy lên vị trí hàng đầu.
Các đại biểu quốc hội là đại diện cho nhân dân, nhưng đại biểu quốc hội là doanh nhân thì còn đại diện cho cả cộng đồng doanh nghiệp, họ là người trong cuộc, hiểu được rõ nét nhất những vấn đề của doanh nghiệp.
Trong 3 ngày qua, khi thông báo có buổi giao lưu trực tuyến “Tiếng nói doanh nghiệp trong Quốc hội”, chúng tôi nhận được gần 1.000 câu hỏi. Qua nội dung các câu hỏi, chúng tôi hiểu được rằng, độc giả của chúng tôi và cũng chính là những cử tri, đã đặt lên vai các đại biểu quốc hội – là diễn giả của chúng tôi hôm nay những trọng trách rất quan trọng.
Trong sáng hôm qua, tòa soạn chúng tôi có tổ chức một buổi hội thảo tại Tp.HCM để phân tích tác động của cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế đến Việt Nam, TS. Vũ Thành Tự Anh - Chương trình giảng dạy kinh tế Fullbright - đã phát biểu: “Trong bối cảnh kinh tế đất nước gặp nhiều khó khăn, lại thêm tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, tôi thấy một điều các doanh nghiệp của chúng ta trở nên quan tâm hơn tới thông tin kinh tế vĩ mô. Điều này hết sức cần thiết…”.
Chúng tôi cũng nhận thấy điều đó qua sự quan tâm của những người tham dự hội thảo này, với số lượng người tham dự lên tới đông hơn nhiều so với dự kiến, chương trình không có nghỉ giải lao, kéo dài tới hơn quá trưa.
Và những câu hỏi của độc giả VnEconomy gửi về trong buổi giao lưu trực tuyến chiều nay càng cho thấy sự quan tâm này.
Thay mặt Tòa soạn VnEconomy và Thời báo Kinh tế Việt Nam, chúng tôi xin cảm ơn sự tham gia của các ông Nguyễn Đức Kiên, ông Nguyễn Văn Thời và bà Phạm Thị Loan. Chân thành cảm ơn quý độc giả của VnEconomy đã nhiệt tình tham gia cuộc trực tuyến hôm nay.
Đọc thêm
Còn nhiều rào cản trong tiến trình bình đẳng giới tại Việt Nam
Gần 70% doanh nghiệp nữ làm chủ có quy mô siêu nhỏ, tỷ lệ tiếp cận vốn ngân hàng thấp hơn 10 điểm phần trăm so với doanh nghiệp do nam lãnh đạo và chỉ khoảng 5% doanh nghiệp nữ được tham gia vào các chuỗi cung ứng toàn cầu...
"3 đúng" trong lãnh đạo và quản trị doanh nghiệp
Thế hệ CEO kế cận của Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để đưa doanh nghiệp vươn ra khu vực và toàn cầu, với điều kiện tiên quyết là “nghĩ lớn” phải luôn đi cùng “làm chuẩn”...
Tiến sĩ Nguyễn Thị Phương Thảo nhận danh hiệu Anh hùng Lao động: Biểu tượng bản lĩnh, khát vọng Việt Nam hùng cường
Trong không khí phấn khởi của Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI, Đảng và Nhà nước đã trang trọng trao Danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới cho Tiến sĩ Nguyễn Thị Phương Thảo - nữ doanh nhân thời kỳ đổi mới với hoạt động liên tục, sôi nổi trên nhiều phương diện.
Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI: Khơi dậy tinh thần cống hiến vì quốc gia, dân tộc
Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI tổng kết phong trào thi đua giai đoạn 2021–2025, xác định định hướng giai đoạn 2026–2030, nhấn mạnh yêu cầu đổi mới, thực chất và lan tỏa tinh thần cống hiến vì quốc gia, dân tộc.
Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng: Kinh tế tư nhân là động lực then chốt đưa Thủ đô bứt phá trong kỷ nguyên mới
Với sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, sự đồng hành của chính quyền Thành phố và nỗ lực không ngừng của cộng đồng doanh nhân, doanh nghiệp Thủ đô sẽ tiếp tục nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, phát triển mạnh mẽ, xứng đáng với vai trò “Kinh tế tư nhân – động lực quan trọng của nền kinh tế Thủ đô và đất nước”…
Với phương châm Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định tư duy, tầm nhìn, những quyết sách chiến lược để chúng ta vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên mới, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 khi Đảng ta tròn 100 năm thành lập (1930 - 2030); hiện thực hoá tầm nhìn phát triển đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945 - 2045).
Tổng số đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI trong cả nước là 182. Số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị bầu cử và số lượng đại biểu Quốc hội được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử của các tỉnh, thành phố được ấn định gồm: Hà Nội có 11 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 32; Thành phố Hồ Chí Minh có 13 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 38; Hải Phòng có 7 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 19...
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên VnEconomy.
Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là generative AI, phát triển mạnh mẽ, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tiên phong ứng dụng công nghê để mang đến trải nghiệm thông tin đột phá với chatbot AI Askonomy...
Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?
Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán),
có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu).
Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính: