Ngày 21/8, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và xã hội Việt Nam) tổ chức diễn đàn khoa học với chủ đề “Đầu tư và phát triển năng lượng hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao và bền vững”.
Diễn đàn có sự tham gia của 300 khách mời là đại biểu, chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý đến từ các bộ, ban, ngành và doanh nghiệp có liên quan.
Phát biểu tại diễn đàn, TS. Tạ Đình Thi, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cho biết diễn đàn “Đầu tư phát triển năng lượng hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao và bền vững” cần đề xuất những giải pháp mang tính đột phá, tháo gỡ các điểm nghẽn và rào cản trong huy động nguồn lực đầu tư cho phát triển năng lượng. Đây sẽ là cơ sở để tạo lập nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2045.
Chia sẻ tại sự kiện, PGS.TS.Trần Đình Thiên, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng, Nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, nhấn mạnh để đạt mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045, giai đoạn 2026-2030 Việt Nam phải duy trì tăng trưởng 8-10%/năm. Điều này kéo theo nhu cầu sử dụng năng lượng lớn. Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2035 cần bổ sung thêm 150.000 MW năng lượng tái tạo, tương đương khoảng 1.500 dự án mới (với mỗi dự án có công suất trung bình 100 MW).
"Không chỉ về số lượng, quá trình đầu tư các dự án nguồn điện tái tạo với công nghệ cao cần hơn 5 năm. Đây là thách thức vượt qua năng lực triển khai hiện tại, buộc Việt Nam phải đột phá trong cơ chế, chính sách và quản trị cũng như cơ chế chọn nhà thầu", PGS.TS.Trần Đình Thiên nhấn mạnh.
Bên cạnh thách thức về số lượng dự án, nhu cầu vốn đầu tư cũng đang là rào cản. Trích phân tích của TS.Cấn Văn Lực từ các trường hợp của Hàn Quốc và Trung Quốc, PGS.TS.Trần Đình Thiên nhận định để trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045 - trong trường hợp GDP giả định tăng 7% trong năm 2025, 8-10% trong giai đoạn 2026-2030 và 7-8% trong giai đoạn 2031-2045 (thấp hơn nhiều mục tiêu chính thức) - Việt Nam cần duy trì đầu tư toàn xã hội tối thiểu ở mức 38% GDP cho giai đoạn 2026-2045. Đây là một con số khổng lồ, tương đương với 240-245 tỷ USD/năm giai đoạn 2026 - 2045, trong đó đầu tư điện và lưới điện lên đến 24,78 tỷ USD/năm.
Tuy nhiên, trở ngại không chỉ là nguồn vốn mà còn ở thể chế. Theo thống kê của Bộ Tài chính, hiện có hơn 2.200 dự án với tổng vốn khoảng 6 triệu tỷ đồng bị đình trệ do vướng mắc thủ tục, pháp lý. Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới các dự án năng lượng quy mô lớn như điện hạt nhân, thủy điện tích năng hay LNG, những nguồn cung then chốt cho an ninh năng lượng dài hạn.
Bổ sung thêm, TS. Nguyễn Ngọc Hưng, Trưởng phòng Kinh tế năng lượng, Viện Năng lượng, cho biết mục tiêu thay đổi cơ cấu kinh tế, hướng đến phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao và bền vững của Việt Nam sẽ đặt gánh nặng rất lớn lên ngành năng lượng. Theo vị chuyên gia này, trong bức tranh năng lương hiện tại thì 1 triệu VNĐ đóng góp GDP của ngành công nghiệp tiêu tốn khoảng 66 số điện. Trong khi đó, 1 triệu VNĐ đóng góp vào GDP của ngành dịch vụ chỉ cần khoảng 11 số điện.
Theo quy hoạch cũ, tổng nhu cầu năng lượng cuối cùng của Việt Nam sẽ tăng lên 107 triệu TOE vào năm 2030 và định hướng khoảng 165-184 triệu TOE vào năm 2050 với tỷ trọng điện trong năng lượng cuối cùng chiếm lần lượt là 41% và 60% , đòi hỏi tốc độ tăng trưởng rất lớn của ngành công nghiệp năng lượng.
Tuy nhiên, để đáp ứng kịch bản tăng trưởng 8% trong năm 2025 và 2 con số trong các năm tới, tổng nhu cầu năng lượng cuối cùng được điều chỉnh tăng 11 triệu TOE vào năm 2030 và tăng 18-37 triệu TOE vào năm 2050. TS. Nguyễn Ngọc Hưng đánh giá mức tăng này tạo ra thách thức cho các nhà quản lý khi phải cân bằng giữa nhu cầu tăng cường nguồn cung, đảm bảo an ninh năng lượng trong ngắn hạn và phát triển bền vững thông qua đầu tư năng lượng tái tạo.
Để đạt được những mục tiêu này, TS. Nguyễn Ngọc Hưng cho rằng trong dài hạn, cần tăng cường chuyển dịch sang các nguồn năng lực bền vững, vì dù những loại hình này có chi phí đầu tư ban đầu lớn nhưng lại không mất chi phí nhiên liệu để duy trì trong lâu dài. Bên cạnh đó, vị chuyên gia này cũng nêu bật nhu cầu phát triển và nhập khẩu khẩu những công nghệ hiệu suất cao giúp tăng hiệu quả sử dụng năng lượng.
“Trong năm 2020, để quy đổi ra 1 tỷ VNĐ GDP thì cần 19 TOE. Đến năm 2030, con số này cần phải giảm xuống 14 TOE để tạo ra 1 tỷ VNĐ GDP và đến năm 2050 cần giảm xuống 8 TOE”, TS. Nguyễn Ngọc Hưng cho biết.
Theo ông Lê Anh Tuấn, Chủ tịch Hội đồng Đại học Bách khoa Hà Nội, để làm chủ công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực điện hạt nhân và năng lượng tái tạo, Việt Nam phải đầu tư mạnh cho nguồn nhân lực chất lượng cao. "Không thể chỉ đào tạo cử nhân mà đáp ứng được yêu cầu. Việt Nam cần kỹ sư, thạc sĩ, tiến sĩ được đào tạo bài bản, gắn với nghiên cứu và ứng dụng",ông Tuấn nhấn mạnh; đồng thời cho rằng cần có chính sách đãi ngộ và thu hút nhân tài để giữ được lực lượng chuyên gia nòng cốt.




Trong bối cảnh các thị trường truyền thống như Hoa Kỳ, EU và một phần Nhật Bản suy yếu, Trung Quốc - Hồng Kông cùng khối ASEAN đang trở thành động lực chính giúp duy trì đà tăng trưởng của ngành thủy sản Việt Nam...
Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2025. Theo chuyên gia, điều này phản ánh xu thế chung về sức chống chịu của doanh nghiệp đang dần cạn kiệt. Sự biến động của lạm phát, xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào tăng… đang bào mòn nguồn lực của doanh nghiệp, khả năng gánh rủi ro kéo dài ngày càng hạn chế.
Thị trường nông sản, chăn nuôi và thủy sản trong tháng 8/2026 ghi nhận nhiều diễn biến trái chiều. Trong khi giá lúa tươi tại Đồng bằng sông Cửu Long và giá cà phê tại Tây Nguyên tăng so với tháng trước, thì giá lợn hơi, hồ tiêu và tôm thẻ chân trắng lại chịu áp lực giảm do nguồn cung dồi dào và sức mua chưa phục hồi mạnh...
Hệ thống cảnh báo nhanh của Liên minh châu Âu (RASFF) ghi nhận 10 trường hợp nông, thủy sản Việt Nam vi phạm quy định an toàn thực phẩm trong tháng 7 và tháng 8/2026, đặt ra yêu cầu cấp thiết về siết chặt kiểm soát chất lượng xuất khẩu...
Sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vẫn gặp khó khăn trong tiêu thụ do quy mô sản xuất nhỏ, chất lượng và sản lượng chưa đồng đều, chi phí lưu thông cao, năng lực nắm bắt nhu cầu tiêu dùng còn hạn chế, chưa tiếp cận thường xuyên các hệ thống phân phối…
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2025. Theo chuyên gia, điều này phản ánh xu thế chung về sức chống chịu của doanh nghiệp đang dần cạn kiệt. Sự biến động của lạm phát, xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào tăng… đang bào mòn nguồn lực của doanh nghiệp, khả năng gánh rủi ro kéo dài ngày càng hạn chế.