Sự phát triển NEV tại Trung Quốc không chỉ là câu chuyện về công nghệ hay thị trường mà còn là kết quả của chiến lược phát triển nhà nước định hướng dài hạn, phục vụ 3 mục tiêu chiến lược: giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu; nâng cấp cơ cấu công nghiệp theo hướng công nghệ cao; và thực hiện cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính.
Trên các con phố của Thâm Quyến - thành phố tiên phong về phương tiện năng lượng mới tại Trung Quốc, dễ dàng gặp các NEV đỗ dưới những khẩu hiệu khuyến khích lối sống “xanh và ít carbon”.
Với vai trò là đô thị cấp siêu lớn, Thâm Quyến có mật độ giao thông cao, áp lực môi trường đáng kể, đồng thời sở hữu năng lực đổi mới và quản trị mạnh mẽ, trở thành không gian thử nghiệm lý tưởng cho các chính sách tích hợp NEV, năng lượng tái tạo và số hóa đô thị. Những chính sách này không chỉ tập trung vào mở rộng số lượng phương tiện xanh mà còn chú trọng đến hạ tầng, tiêu chuẩn, quản trị dữ liệu và cơ chế thị trường, hình thành một hệ sinh thái chính sách toàn diện.
Quy chế được ban hành vào tháng 10/2023 của Ủy ban Cải cách và Phát triển Thâm Quyến đánh dấu một bước chuyển quan trọng: hạ tầng sạc điện không còn được xem như các công trình kỹ thuật đơn lẻ mà được nhìn nhận như một hệ thống đô thị phức hợp.
Quy chế đề ra 4 nguyên tắc cốt lõi: bố trí khoa học, cân đối cung-cầu, đổi mới tích hợp và đảm bảo an toàn, tiện lợi. Việc lồng ghép hạ tầng sạc vào quy hoạch không gian đô thị, điện lực, giao thông và phòng cháy chữa cháy cho thấy chính quyền Thâm Quyến nhận thức rằng quản trị NEV là vấn đề liên ngành, đòi hỏi phối hợp chặt chẽ giữa nhiều cơ quan.
Theo đó, ít nhất 11 cơ quan thành phố được phân công trách nhiệm cụ thể, từ cơ quan phát triển - cải cách, quy hoạch, giao thông, xây dựng, đến khí tượng và phòng cháy chữa cháy. Điểm đặc biệt là thiết lập nền tảng giám sát an toàn cấp thành phố, yêu cầu dữ liệu vận hành thời gian thực và cơ chế loại bỏ các cọc sạc mất hiệu lực dài hạn, thể hiện tư duy quản trị dựa trên dữ liệu, vượt ra khỏi quản lý hành chính truyền thống.
Quy định về việc các trạm sạc mới phải có khả năng sạc có trật tự và kết nối với nhà máy điện ảo (Virtual Power Plant) mang ý nghĩa chiến lược. Nó biến NEV từ một “thiết bị tiêu thụ điện thụ động” thành nguồn tài nguyên linh hoạt, góp phần điều tiết phụ tải, hấp thụ năng lượng tái tạo và nâng cao an ninh năng lượng đô thị. Đây là ví dụ điển hình về cách chính sách có thể biến công nghệ thành công cụ quản trị đô thị tích hợp.
Sở Công nghiệp và Công nghệ thông tin Thâm Quyến trong quy trình hỗ trợ tài chính năm 2024 đã điều chỉnh quan trọng: ngân sách công không còn dàn trải mà tập trung vào các “nút cổ chai công nghệ” và hạ tầng đổi mới.
Ba nhóm dự án được ưu tiên bao gồm: nền tảng dịch vụ công nghiệp, chứng nhận điện tử ô tô và các dự án công nghiệp hóa. Chiến lược này không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp đơn lẻ mà hướng đến việc bổ sung năng lực cho toàn hệ sinh thái NEV.
Việc hỗ trợ chứng nhận xe về quy chuẩn, an toàn chức năng, an ninh mạng và phần mềm cho thấy nhận thức sâu sắc rằng quyền lực công nghiệp trong giai đoạn hiện nay không chỉ nằm ở sản lượng mà ở khả năng thiết lập tiêu chuẩn, hệ thống và tương thích. Đây là bước chuyển từ chiến lược “Made in China” sang “Designed and Standardized in China”, đồng bộ với xu hướng toàn cầu của ngành ô tô thông minh và kết nối.
Quy trình nhiều tầng trong phân bổ và đánh giá hỗ trợ tài chính, từ thẩm định hình thức, đánh giá chuyên gia, kiểm toán chuyên đề đến đánh giá hiệu quả, thể hiện chuẩn mực quản trị tài khóa cao, giảm rủi ro trục lợi chính sách, và nâng cao hiệu quả chi tiêu công. Cơ chế này không chỉ củng cố niềm tin thị trường mà còn khuyến khích đầu tư dài hạn vào công nghệ NEV, đồng thời đảm bảo các nguồn lực công được sử dụng hiệu quả để nâng cao năng lực nội sinh của ngành.
Một trong những nghịch lý lớn nhất của chính sách phương tiện năng lượng mới là việc xe điện không mặc nhiên đồng nghĩa với phát thải thấp. Thực tế cơ cấu điện vẫn còn phụ thuộc một phần vào nhiên liệu hóa thạch, xe điện chỉ thực sự “xanh” khi nguồn điện dùng để sạc được sản xuất từ năng lượng tái tạo. Nếu không giải quyết được mối liên kết này, chính sách NEV có nguy cơ chỉ chuyển dịch phát thải từ ống xả sang nhà máy điện. Sáng kiến “Xe xanh- Điện xanh” của Thâm Quyến ra đời chính để xử lý nghịch lý đó bằng một thiết kế thể chế mang tính hệ thống, thay vì dựa vào khuyến khích hành vi tự phát.
Trọng tâm của sáng kiến nằm ở việc gắn tiêu dùng điện cho xe điện với cơ chế chứng chỉ điện xanh quốc gia. Cụ thể, mỗi 1.000 kWh điện xanh được sử dụng để sạc xe sẽ được cấp một chứng chỉ tương ứng. Cách tiếp cận này tạo ra một đơn vị đo lường chuẩn hóa cho đóng góp giảm phát thải ở cấp độ cá nhân. Thay vì chỉ nói đến “ý thức bảo vệ môi trường”, hệ thống chứng chỉ biến hành vi sạc xe thành một hành vi có thể ghi nhận, theo dõi và tích lũy trong hệ thống quản trị carbon.
Quan trọng hơn, cơ chế này tạo ra sự liên thông giữa tiêu dùng cá nhân-thị trường điện-thị trường carbon. Khi người dân có thể truy xuất nguồn gốc điện sử dụng, chẳng hạn từ điện gió ngoài khơi hay điện mặt trời, hành vi sạc xe trở thành một quyết định có cả về kinh tế lẫn đạo đức.
Việc sạc xe bằng điện xanh được “tài chính hóa” thông qua chứng chỉ và “đạo đức hóa” thông qua khả năng đo đếm đóng góp môi trường, từ đó khuyến khích hành vi xanh không chỉ trong ngắn hạn mà cả về lâu dài.
Sáng kiến “Xe xanh - Điện xanh” còn phản ánh năng lực tổ chức thị trường điện và phối hợp liên vùng của Thâm Quyến. Việc có 11 trạm sạc đạt 100% điện xanh cho thấy thành phố không chỉ dựa vào nguồn điện nội địa mà còn tận dụng cơ chế thị trường điện và chứng chỉ để huy động nguồn năng lượng tái tạo từ các khu vực khác. Đây là bước tiến quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh các đô thị lớn thường gặp hạn chế về không gian phát triển năng lượng tái tạo tại chỗ.
Hiện nay, Thâm Quyến là thành phố đầu tiên của Trung Quốc thay thế toàn bộ xe buýt, taxi và xe dịch vụ gọi qua ứng dụng bằng phiên bản điện trong khi khoảng 77% tổng số xe mới bán ra tại Thâm Quyến vào năm 2024 là NEV (tức là gần 77 trong 100 xe đăng ký mới là NEV), cao hơn so với tỷ lệ quốc gia là 48%.
Năm 2024, thành phố sản xuất khoảng 2,935,300 NEV, là một trong những địa phương sản xuất nhiều xe nhất Trung Quốc. Tính đến tháng 6/2024, Thâm Quyến có khoảng 1,08 triệu NEV đang lưu hành trong tổng số khoảng 4,263 triệu xe trên đường, tương đương hơn 25% tổng phương tiện là NEV.
Theo báo cáo công tác chính quyền Thâm Quyến tại kỳ họp “lưỡng hội” năm 2025, thành phố với dân số chiếm 1% cả nước đã sản xuất 22% số NEV của Trung Quốc năm 2024.
Thành phố cũng đã triển khai hạn ngạch phát thải carbon, hỗ trợ chuyển từ “kiểm soát kép năng lượng” sang “kiểm soát kép carbon” trước khi có thông báo hạn ngạch quốc gia. Bên cạnh đó, hệ thống giao dịch phát thải địa phương (ETS) và trái phiếu xanh của Thâm Quyến đều được triển khai trước hệ thống ETS và trái phiếu xanh quốc gia. Khoảng 100 dự án đầu tư và tài chính khí hậu mới sẽ được triển khai trong năm 2026, cùng với 180 tỷ NDT trái phiếu xanh được phát hành.
Trường hợp của Thâm Quyến cho thấy tầm quan trọng của việc phối hợp liên ngành khi hạ tầng sạc xe điện được tích hợp vào quy hoạch đô thị, mạng lưới điện, giao thông và phòng cháy chữa cháy, thay vì chỉ xử lý theo từng bộ ngành riêng lẻ. Sự ưu tiên cho tiêu chuẩn, an toàn và khả năng tương thích nhấn mạnh rằng quyền lực công nghiệp hiện đại không chỉ nằm ở sản lượng hay trợ cấp mà ở khả năng thiết kế, chuẩn hóa và điều phối hệ thống.
Đồng thời, sáng kiến “Xe xanh - Điện xanh” biến hành vi tiêu dùng cá nhân thành một phần của hệ thống đo lường và thị trường carbon, tạo cơ chế định hình hành vi xanh dài hạn, vừa có tác dụng môi trường, vừa có giá trị kinh tế.
Với những đặc trưng này, các quốc gia khác có thể học hỏi cách thử nghiệm chính sách trong đô thị cấp cao, dùng dữ liệu và tiêu chuẩn để tối ưu hóa hạ tầng, đồng thời kết hợp các cơ chế thị trường để khuyến khích hành vi bền vững. Thay vì triển khai rời rạc hoặc dựa hoàn toàn vào doanh nghiệp, mô hình của Thâm Quyến gợi ý rằng một chiến lược tích hợp giữa nhà nước, thị trường và người dân sẽ hiệu quả hơn trong phát triển NEV, nâng cấp công nghiệp và hướng tới các mục tiêu khí hậu lâu dài.
Đại biểu Quốc hội đề nghị bổ sung nguyên tắc: các dự án ven biển, lấn biển, xây dựng công trình trên biển phải xác định rõ lối tiếp cận biển công cộng, bãi biển công cộng và không gian sinh hoạt truyền thống của cộng đồng; không được biến quyền tiếp cận hợp pháp của người dân thành quyền phụ thuộc vào sự cho phép của chủ đầu tư...
Làm rõ quyền hưởng lợi của các chủ thể tham gia tạo ra kết quả giảm phát thải, hấp thụ khí nhà kính, bảo đảm thống nhất với pháp luật về lâm nghiệp; bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các bên, tạo động lực cho người dân, cộng đồng tham gia bảo vệ rừng...
TKV đang triển khai nhiều giải pháp tiết kiệm tài nguyên, từ tái sử dụng nước thải mỏ đến cơ giới hóa, hiện đại hóa thiết bị khai thác. Các hoạt động này nhằm giảm tiêu hao nguyên, nhiên liệu, nâng cao hiệu quả sản xuất và hạn chế tác động đến môi trường, từng bước chuyển đổi sản xuất bền vững trong lĩnh vực khai khoáng…
Từ các cuộc hội thảo, nghiên cứu chung và đề xuất dự án, hợp tác Việt Nam – Nhật Bản tại Nghi Sơn đang hướng tới một chuỗi công việc cụ thể: thu khí thải tại nhà máy, vận chuyển và lưu trữ dưới lòng đất.
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc lưu ý khuyến khích người dân được quyền chủ động chuyển đổi sang sử dụng phương tiện giao thông xanh; không quy định bắt buộc chủ phương tiện, người dân, doanh nghiệp phải chuyển sang sử dụng phương tiện thuần điện, phương tiện giao thông xanh...
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 10 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều con số kỷ lục. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu tiên vượt mốc 1.000 tỷ USD, vốn FDI đăng ký đạt mức cao nhất kể từ năm 2009 đến nay (54,85 tỷ USD), vốn FDI thực hiện cũng đạt mức cao nhất trong 5 năm qua (24,08 tỷ USD). Cùng với sự phục hồi mạnh mẽ của sản xuất công nghiệp, bán lẻ và du lịch, nền kinh tế Việt Nam đang chứng tỏ đà tăng trưởng vững chắc…
Lần đầu tiên kim ngạch xuất nhập khẩu vượt mốc 1.000 tỷ USD, vốn FDI đăng ký lập đỉnh cao nhất trong vòng 17 năm qua, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng. Tuy nhiên, diện tích gieo cấy lúa lại giảm tới hàng chục nghìn ha, bình quân vẫn còn tới 18,2 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thi trường. Đó là những điểm nhấn trong tổng quan bức tranh kinh tế Việt Nam 10 tháng qua.