Ngoài
việc bỏ yêu cầu Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ,
dự thảo còn sửa đổi một số quy định liên quan đến thanh toán giao dịch vàng, nhập
khẩu vàng nguyên liệu, quản lý dữ liệu và chế độ báo cáo.
Theo Nghị định 24/2012/NĐ-CP, hoạt động sản xuất vàng trang sức,
mỹ nghệ là ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Doanh nghiệp muốn hoạt động phải
được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất vàng trang sức,
mỹ nghệ. Hoạt động kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ cũng được xác định
là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, dù không yêu cầu cấp giấy chứng nhận đủ
điều kiện kinh doanh.
Đến
Nghị định 232/2025/NĐ-CP, quy định này tiếp tục được giữ nguyên. Khoản 6 Điều 4
sau sửa đổi vẫn quy định hoạt động sản xuất vàng miếng; kinh doanh mua, bán
vàng miếng; sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ là hoạt động kinh doanh có điều kiện
và phải được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép hoặc giấy chứng nhận đủ điều kiện.
Dự thảo sửa Nghị định 24/2012 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng đang đề xuất ba thay đổi lớn gồm: bãi bỏ điều kiện kinh doanh vàng trang sức, mỹ nghệ và yêu cầu Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất; sửa quy định thanh toán giao dịch vàng từ 20 triệu đồng/ngày theo hướng bắt buộc thanh toán không dùng tiền mặt, đồng thời bổ sung quy định với nguồn tiền tín dụng; mở rộng yêu cầu quản lý dữ liệu, báo cáo và kết nối thông tin giao dịch vàng nguyên liệu với Ngân hàng Nhà nước.
Tuy
nhiên, tại Dự
thảo sửa đổi Nghị định 24 năm 2026, khoản 7
Điều 4 được sửa đổi theo hướng hoạt động sản xuất, gia công, kinh doanh mua,
bán vàng trang sức, mỹ nghệ không còn là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều
kiện. Tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động này phải tuân thủ quy định của pháp
luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, tiêu chuẩn, đo lường, nhãn hàng hóa,
niêm yết giá, hóa đơn, chứng từ, thuế, phòng cháy chữa cháy, bảo vệ môi trường,
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, phòng chống rửa tiền và các quy định pháp luật
có liên quan.
Tương
ứng với thay đổi này, Dự thảo đề xuất bãi bỏ Điều 5, Điều
6, Điều 7, Điều 8 và Điều 9 của Nghị định 24/2012. Đây là các điều khoản đang
quy định về điều kiện hoạt động sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ; trách nhiệm của
doanh nghiệp sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ; hoạt động gia công vàng trang sức,
mỹ nghệ; điều kiện kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ và trách nhiệm của
doanh nghiệp kinh doanh vàng trang sức, mỹ nghệ.
Dự
thảo cũng quy định kể từ ngày nghị định có hiệu lực, Giấy chứng nhận đủ điều kiện
sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ do Ngân hàng Nhà nước cấp trước ngày nghị định
mới có hiệu lực sẽ không còn là điều kiện để tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động
sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ. Các hồ sơ đề nghị cấp, sửa đổi, bổ sung giấy
chứng nhận đã nộp nhưng đến ngày nghị định có hiệu lực chưa được giải quyết sẽ
chấm dứt xử lý.
Liên
quan đến phương thức thanh toán giao dịch vàng, Nghị định 24/2012 chưa có quy định
về hình thức thanh toán đối với hoạt động mua, bán vàng.
Đến
Nghị định 232/2025, khoản 10 Điều 4 được bổ sung theo hướng giao dịch mua, bán
vàng có giá trị từ 20 triệu đồng trong ngày trở lên của một khách hàng phải thực
hiện thông qua tài khoản thanh toán của khách hàng và tài khoản thanh toán của
doanh nghiệp kinh doanh vàng mở tại ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh ngân
hàng nước ngoài.
Dự
thảo năm 2026 tiếp tục giữ nguyên ngưỡng giao dịch từ 20 triệu đồng trong ngày
nhưng sửa đổi cách quy định theo hướng việc thanh toán mua, bán vàng phải được
thực hiện bằng phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định của
pháp luật về thanh toán. Đồng thời, dự thảo bổ sung quy định việc sử dụng thẻ
tín dụng hoặc phương tiện, hình thức thanh toán có nguồn tiền từ hoạt động cấp
tín dụng để thanh toán giao dịch mua vàng miếng phải tuân thủ quy định của pháp
luật về hoạt động cấp tín dụng.
Đối
với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu, dự thảo tiếp tục sửa đổi
Điều 14 của Nghị định 24 và điều chỉnh một số quy định đã được sửa đổi tại Nghị
định 232/2025.
Theo
đó, doanh nghiệp có đăng ký hoạt động sản xuất, gia công vàng trang sức, mỹ nghệ
và có hợp đồng gia công với nước ngoài được Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp Giấy
phép tạm nhập vàng nguyên liệu để tái xuất sản phẩm nếu nhu cầu nhập khẩu phù hợp
với hợp đồng gia công. Vàng nguyên liệu tạm nhập chỉ được sử dụng để thực hiện
hợp đồng gia công và tái xuất sản phẩm.
Đối
với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, dự thảo bổ sung căn cứ xem xét cấp
giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu hàng năm dựa trên năng lực sản xuất, tình
hình thực hiện hợp đồng gia công hoặc hợp đồng xuất khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ
và báo cáo tình hình xuất khẩu của năm trước, nếu có.
Dự
thảo cũng sửa đổi quy định về phạm vi vàng nguyên liệu được xuất khẩu, nhập khẩu
theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Ngoài vàng dưới dạng bột, dung dịch,
vẩy hàn, muối vàng và vàng trang sức dưới dạng bán thành phẩm đã được quy định
từ trước, dự thảo bổ sung thêm vàng nguyên liệu dưới dạng dây, ống; đồng thời bổ
sung quy định đối với vàng sử dụng làm nguyên liệu sản xuất linh kiện điện tử,
thiết bị điện tử, thiết bị y tế và dụng cụ y tế.
Một
nội dung mới khác được bổ sung là yêu cầu doanh nghiệp, ngân hàng thương mại nhập
khẩu vàng nguyên liệu phải xây dựng hệ thống thông tin để xử lý, lưu trữ dữ liệu
về xuất khẩu, nhập khẩu, mua, bán, sử dụng, tồn kho vàng nguyên liệu nhập khẩu
và dữ liệu giao dịch mua bán vàng nguyên liệu; đồng thời thực hiện kết nối,
cung cấp thông tin cho Ngân hàng Nhà nước theo quy định của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước.
Tương
ứng, Điều 20 về chế độ báo cáo cũng được sửa đổi theo hướng bổ sung nội dung
báo cáo về tình hình mua, bán, sử dụng, tồn kho vàng nguyên liệu nhập khẩu;
tình hình thực hiện hợp đồng gia công, hợp đồng xuất khẩu vàng trang sức, mỹ
nghệ và tình hình bán vàng nguyên liệu nhập khẩu theo quy định của Ngân hàng
Nhà nước.
Nghị
định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động
kinh doanh vàng dự kiến có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.