Dữ liệu đất đai: Cần chuyển từ tư duy “quản lý chặt đầu vào” sang cơ chế “trách nhiệm đầu ra”
LLS. Bùi Văn Thành (*)
Chọn cỡ chữ
Trong bối cảnh chuyển đổi số, dữ liệu đất đai trở thành tài nguyên quý giá phục vụ phát triển kinh tế. Tuy nhiên, những bất cập tại Phần VI Phụ lục I Nghị định 151/2025/NĐ-CP về phí dịch vụ, thẩm quyền cung cấp và chế tài xử lý chậm trễ đang làm giảm đi hiệu năng của nguồn lực này. Vì vậy, cần thay đổi cách tiếp cận để thủ tục hành chính không còn là “rào cản” trong các giao dịch M&A và đầu tư…
Ảnh minh họa.
Nghị định số 151/2025/NĐ-CP của Chính phủ “quy định về phân
định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp, phân quyền, phân cấp trong
lĩnh vực đất đai”, được ban hành trong bối cảnh Nhà nước đang đẩy mạnh chuyển đổi
số, xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai và cải cách thủ tục hành chính
trong lĩnh vực tài nguyên đất đai.
Phần VI Phụ lục I của Nghị định quy định về “trình tự, thủ tục
cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai”.
Về mặt định hướng chính sách, quy định này nhằm chuẩn hóa
quy trình tiếp cận, khai thác dữ liệu đất đai đối với người dân, doanh nghiệp
và các chủ thể có liên quan khi có yêu cầu sử dụng thông tin, dữ liệu đất đai
và hoạt động quản lý nhà nước.
Tuy nhiên, phân tích các quy định cụ thể của Phần VI Phụ lục
I và thực tiễn triển khai bước đầu, có thể nhận thấy nhiều bất cập cả về kỹ thuật
xây dựng văn bản quy phạm pháp luật lẫn tổ chức thực hiện, ảnh hưởng trực tiếp
đến hiệu quả và quyền tiếp cận thông tin đất đai – một yếu tố then chốt bảo đảm
an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh doanh và đầu tư.
Luật sư Bùi Văn Thành, Văn phòng Luật sư Mặt Trời Mới.
"Nghị định số 151 là văn bản dưới luật. Trong khi đó, nhiều loại dữ liệu đất đai như bản đồ địa chính, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thống kê – kiểm kê đất đai, quyết định thu hồi đất... mang bản chất là thông tin công, phục vụ lợi ích chung của xã hội. Việc hạn chế mục đích sử dụng thông tin, dữ liệu đất đai có thể dẫn đến cách hiểu và áp dụng cứng nhắc, làm thu hẹp quyền tiếp cận thông tin của tổ chức, cá nhân, đặc biệt là các đơn vị tư vấn, nghiên cứu, báo chí và doanh nghiệp".
Trước hết, về mặt pháp lý, Phần VI yêu cầu chủ
thể có nhu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai phải ghi rõ mục đích sử dụng
và chỉ được sử dụng đúng mục đích như đã ghi trong phiếu yêu cầu cung cấp thông
tin hoặc văn bản yêu cầu hoặc hợp đồng và không được cung cấp để sử dụng vào mục
đích khác, cho thấy có vấn đề về quyền tiếp cận thông tin của tổ chức, cá nhân.
Theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, thông tin do cơ quan
nhà nước nắm giữ về nguyên tắc phải được công khai. Quyền tiếp cận thông tin được
đảm bảo bằng quy định của luật: (i) Mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân
biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; (ii) Thông tin được
cung cấp phải chính xác, đầy đủ: (iii) Việc cung cấp thông tin phải kịp thời,
minh bạch, thuận lợi cho công dân; đúng trình tự, thủ tục theo quy định của
pháp luật: (iv) Việc hạn chế quyền tiếp cận thông tin phải do luật định trong
trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã
hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.
Nghị định số 151 là văn bản dưới luật. Trong khi đó, nhiều
loại dữ liệu đất đai như bản đồ địa chính, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thống
kê – kiểm kê đất đai, quyết định thu hồi đất... mang bản chất là thông tin
công, phục vụ lợi ích chung của xã hội. Việc hạn chế mục đích sử dụng thông
tin, dữ liệu đất đai có thể dẫn đến cách hiểu và áp dụng cứng nhắc, làm thu hẹp
quyền tiếp cận thông tin của tổ chức, cá nhân, đặc biệt là các đơn vị tư vấn,
nghiên cứu, báo chí và doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, Phần VI Phụ lục I không quy định rõ chế tài
pháp lý trong trường hợp sử dụng dữ liệu “không đúng mục đích”, cũng như không
thiết kế cơ chế kiểm soát, giám sát việc sử dụng dữ liệu sau khi được cung cấp.
Khoảng trống này dễ dẫn đến hai hệ quả trái chiều: một mặt, cơ quan cung cấp dữ
liệu có xu hướng thận trọng quá mức, kéo dài thời gian giải quyết hoặc từ chối
cung cấp thông tin; mặt khác, người sử dụng dữ liệu lại thiếu cơ sở pháp lý rõ
ràng để xác định ranh giới hợp pháp trong việc khai thác và sử dụng thông tin,
dữ liệu đất đai.
Thứ hai, về thẩm quyền và trách nhiệm cung cấp
dữ liệu, quy định hiện hành cho phép nhiều chủ thể cùng tham gia cung cấp thông
tin đất đai, bao gồm cơ quan quản lý thông tin, dữ liệu đất đai ở trung ương,
Văn phòng đăng ký đất đai các cấp và cả UBND cấp xã tại những địa phương chưa
hoàn thiện Cơ sở dữ liệu đất đai. Cách thiết kế này mang tính linh hoạt nhưng
thiếu cơ chế xác định cơ quan chịu trách nhiệm cuối cùng về tính chính xác, đầy
đủ của dữ liệu được cung cấp. Trường hợp có sự khác biệt giữa dữ liệu điện tử và
hồ sơ địa chính giấy, Phần VI Phụ lục I chưa đưa ra nguyên tắc ưu tiên áp dụng
hoặc cơ chế xử lý mâu thuẫn, tiềm ẩn rủi ro pháp lý cho người sử dụng dữ liệu.
Thứ ba,về thời hạn giải quyết, mặc dù quy định thời
gian cung cấp dữ liệu tương đối ngắn, song lại thiếu các cơ chế bảo đảm thực hiện.
Phần VI Phụ lục I không quy định rõ hậu quả pháp lý khi cơ quan có thẩm quyền
chậm cung cấp hoặc không cung cấp dữ liệu theo thời hạn đã cam kết. Điều này
khiến quyền tiếp cận thông tin của người dân và doanh nghiệp thiếu cơ chế bảo vệ
hữu hiệu, đặc biệt trong bối cảnh thông tin, dữ liệu đất đai thường gắn với các
quyết định đầu tư, tín dụng hoặc giao dịch có giá trị lớn.
Thứ tư, quy định về phí, giá dịch vụ cung cấp thông
tin, dữ liệu đất đai trong Phần VI Phụ lục I chưa được thiết kế một cách rõ
ràng và thống nhất. Việc sử dụng đồng thời các khái niệm “phí”, “lệ phí” và
“giá dịch vụ” nhưng không phân định rạch ròi phạm vi áp dụng dễ dẫn đến cách hiểu,
giải thích và áp dụng khác nhau giữa các địa phương, làm gia tăng chi phí tuân
thủ cho người dân, doanh nghiệp. Bên cạnh đó, nghị định chưa quy định cụ thể
các trường hợp được miễn, giảm phí, giá dịch vụ, đặc biệt đối với các đối tượng
thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc hoạt động trợ giúp pháp lý.
Về áp dụng trong thực tiễn, việc triển khai Phần VI Phụ lục
I còn gặp nhiều khó khăn do mức độ hoàn thiện không đồng đều của Cơ sở dữ liệu
đất đai giữa các địa phương. Tại nhiều nơi, dữ liệu điện tử chưa được cập nhật
đầy đủ, phải phụ thuộc vào hồ sơ địa chính giấy, kéo dài thời gian xử lý và làm
giảm độ tin cậy của thông tin được cung cấp. Bên cạnh đó, năng lực tổ chức thực
hiện tại cấp cơ sở, đặc biệt là cấp xã, còn hạn chế cả về nhân lực và hạ tầng kỹ
thuật.
Thực tiễn cho thấy, dữ liệu đất đai nếu tiếp cận khó khăn,
thiếu nhất quán hoặc thiếu cơ chế bảo đảm trách nhiệm sẽ trực tiếp làm gia tăng
rủi ro pháp lý cho doanh nghiệp, đặc biệt trong các giao dịch đầu tư, tín dụng
và M&A bất động sản. Do đó, thách thức lớn nhất của Phần VI không phải là
“có cung cấp dữ liệu hay không”, mà là bảo đảm tính kịp thời, chính xác và khả năng
dự đoán của dữ liệu được cung cấp.
Do vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là cần chuyển từ tư duy “quản lý chặt đầu
vào” sang thiết kế cơ chế trách nhiệm ở đầu ra: xác lập rõ cơ quan chịu trách
nhiệm cuối cùng về dữ liệu; có chế tài khi cung cấp chậm, sai hoặc không đầy đủ; phân loại rạch ròi dữ liệu công khai và dữ liệu hạn chế; đồng thời
minh bạch hóa cơ chế phí, giá dịch vụ. Chỉ khi các nội dung này được hoàn thiện
đồng bộ, thủ tục cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai mới thực sự trở thành công
cụ hỗ trợ hiệu quả cho người dân, doanh nghiệp và góp phần nâng cao hiệu quả,
chất lượng quản trị đất đai của Nhà nước, thay vì là một “rào cản hành chính” mới.
Mạng lưới 5 tuyến metro (đường sắt đô thị) đóng vai trò quan trọng trong việc tái cấu trúc không gian đô thị tại Hà Nội, định hình cấu trúc đô thị đa cực. Nơi mà người dân tiếp cận được các dịch vụ trong cự ly đi bộ hoặc di chuyển bằng xe đạp đến các ga trung chuyển kết nối di chuyển.
Trong nhu cầu vốn của 106 dự án hạ tầng lớn, khoảng 65,4% được xác định đến từ đối tác công tư (PPP) và đầu tư trực tiếp, trong khi vốn thuộc các dự án đầu tư công chiếm 34,6%. Tỷ lệ này cho thấy quy mô nguồn lực tư nhân đang được đặt vào một vị trí khác trước trong chiến lược phát triển hạ tầng của TP.Hồ Chí Minh...
Biến động chi phí đầu vào đang cho thấy ranh giới giữa sức ép tài chính của một hãng bay và những tác động lan sang cả thị trường. Câu chuyện AirAsia tại Malaysia vì thế cũng gợi ra những vấn đề đáng lưu ý với hàng không Việt Nam…
Khác với những giai đoạn chuyển đổi số ban đầu vốn chỉ tập trung vào việc số hóa quy trình hay xây dựng cơ sở dữ liệu vật lý, giai đoạn hiện nay đang đặt ra một yêu cầu về khả năng chuyển hóa dữ liệu thành tri thức, công nghệ, năng lực sản xuất và những giá trị thực tiễn về kinh tế, xã hội và chính sách.
Nhân Ngày Quốc tế Bảo vệ tầng ô-dôn năm 2026 và kỷ niệm 10 năm Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thông qua, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức Chương trình tọa đàm “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn”. Tọa đàm được phát trực tuyến trên trên VnEconomy.vn và FanPage VnEconomy vào 9h ngày 14/9/2026...
Nhu cầu làm mát đang gia tăng mạnh mẽ trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp. Để giải bài toán bảo vệ tầng ô-dôn và giảm phát thải, Việt Nam đang thúc đẩy các chiến lược làm mát bền vững nhân kỷ niệm 10 năm Bản sửa đổi, bổ sung Kigali...
Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao...
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam - Tạp chí Kinh tế Việt Nam trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng...
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...