Trong mọi mô hình an sinh xã hội hiện đại, hưu trí không phải là một cấu phần đơn lẻ mà là một hệ sinh thái đa trụ cột, nơi Nhà nước, thị trường và cá nhân cùng chia sẻ trách nhiệm. Việt Nam không nằm ngoài quy luật đó. Bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm hưu trí bổ sung được thiết kế để song hành, bổ trợ, cùng hướng tới một mục tiêu chung: bảo đảm thu nhập bền vững cho người lao động khi hết tuổi lao động.
Thế nhưng, thực tiễn chính sách hiện nay đang đặt ra một câu hỏi lớn. Vì sao trong cùng một hệ thống an sinh xã hội, cơ chế bắt buộc do Nhà nước quản lý lại thể hiện sự linh hoạt và tối ưu vượt trội so với cơ chế tự nguyện, tích lũy và đầu tư theo nguyên tắc thị trường?
Câu hỏi này không chỉ mang tính kỹ thuật chính sách, mà còn chạm tới triết lý quản lý và tầm nhìn dài hạn về an sinh xã hội và phát triển thị trường vốn tại Việt Nam.
Thực tế cho thấy, bảo hiểm xã hội bắt buộc thường bị nhìn nhận là khu vực “hành chính hóa” lại đang sở hữu nhiều đặc điểm chính sách đáng tham chiếu.
Hiện khoản đóng bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp cho người lao động không bị tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân. Đây không chỉ là một ưu đãi thuế thuần túy, mà là một thông điệp chính sách nhất quán: Nhà nước coi bảo hiểm xã hội là thu nhập hoãn lại vì tương lai, chứ không phải là thu nhập tiêu dùng hiện tại.
Nhờ đó, người lao động không bị “đánh thuế” trên phần an sinh của chính mình, còn doanh nghiệp có động lực tuân thủ và đóng góp đầy đủ.
Ngoài ra, mức đóng bảo hiểm xã hội được thiết kế theo tỷ lệ phần trăm tiền lương, với trần bằng 20 lần mức lương cơ sở. Trong đó, với doanh nghiệp là khoảng 15% tiền lương tháng, tối đa trên mức trần 46,8 triệu đồng/tháng. Và với người lao động là 8% tiền lương tháng, cùng mức trần 46,8 triệu đồng/tháng.
Cách thiết kế này mang tính chiến lược ở hai điểm cốt lõi.
Khi lương cơ sở thay đổi, toàn bộ hệ thống trần đóng – trần hưởng tự điều chỉnh, không cần sửa luật, không cần tranh luận lại chính sách. Và mức đóng không bị “đóng băng” theo thời gian, giảm thiểu tác động xói mòn của lạm phát.
Nói cách khác, bảo hiểm xã hội bắt buộc đã được “lập trình” để vận hành cùng nhịp với nền kinh tế.
Trái ngược hoàn toàn, bảo hiểm hưu trí bổ sung, vốn được kỳ vọng là trụ cột thứ hai của hệ thống hưu trí, lại đang vận hành trong một khuôn khổ chính sách thiếu hấp dẫn và kém linh hoạt.
Khoản doanh nghiệp đóng cho người lao động vào bảo hiểm hưu trí bổ sung vẫn bị tính thuế thu nhập cá nhân. Điều này vô hình trung phát đi một thông điệp ngược: Nhà nước chưa thực sự coi hưu trí bổ sung là một cấu phần an sinh thiết yếu, mà chỉ như một khoản thu nhập thông thường.
Hệ quả là: Người lao động không mặn mà tham gia vì khi không thoả điều kiện của doanh nghiệp phần đóng góp của doanh nghiệp sẽ phải hoàn trả lại khi nghỉ việc sớm. Hiển nhiên, người lao động phải đi xin hoàn thuế cho phần thuế đã đóng. Một động tác không hề đơn giản và khó khăn.
Trong khi đó, doanh nghiệp phải gánh thêm áp lực về trách nhiệm thuế (hướng dẫn thủ tục giấy tờ…) với người lao động cho một phúc lợi hoàn toàn tự nguyện.
Hơn nữa, mức ưu đãi 1.000.000 đồng/tháng cũng bị “đóng băng” hơn một thập kỷ trở lại đây. Từ năm 2013 đến nay, mức ưu đãi thuế cho bảo hiểm hưu trí bổ sung vẫn giữ nguyên ở 1.000.000 đồng/tháng. Trong cùng khoảng thời gian đó, mức lương cơ sở đã liên tục được điều chỉnh tăng.
Điều này cho thấy lương cơ sở đã tăng hơn gấp đôi, trong khi ưu đãi thuế cho hưu trí bổ sung hoàn toàn đứng yên.
Nếu cộng thêm yếu tố lạm phát với mức dao động từ 1,8% đến 6,6% mỗi năm trong giai đoạn 2013–2025 thì giá trị thực của 1.000.000 đồng ưu đãi thuế ngày nay đã suy giảm nghiêm trọng.
Một chính sách ưu đãi không điều chỉnh theo lạm phát, về bản chất, là một chính sách tự triệt tiêu theo thời gian.
Từ đây, bức tranh chính sách hiện ra đầy nghịch lý.
Trong khi cơ chế bắt buộc được ưu đãi rõ ràng, linh hoạt, tự điều chỉnh, bảo toàn giá trị thì cơ chế tự nguyện lại ưu đãi thấp, đóng băng, không gắn với chỉ số kinh tế, mất dần sức hút.
Trong bối cảnh già hóa dân số, điều này không chỉ làm suy yếu trụ cột hưu trí bổ sung, mà còn vô tình dồn toàn bộ áp lực dài hạn lên bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy không có quỹ hưu trí mạnh nếu thiếu ưu đãi thuế đủ lớn. Ưu đãi thuế không phải là chi phí ngân sách, mà là đầu tư cho ổn định xã hội và thị trường vốn.
Hoa Kỳ với 401(k), Vương quốc Anh với cơ chế hoàn thuế trực tiếp, Úc với hệ thống Superannuation, đều có ưu đãi thuế linh hoạt và được điều chỉnh theo thời gian. Nhờ đó, quỹ hưu trí trở thành nguồn vốn khổng lồ cho khu vực tư nhân.
Vì vậy, Việt Nam cần một cách tiếp cận mới, nhất quán và tiên tiến hơn. Cụ thể: (i) Thay thế mức ưu đãi cố định 1.000.000 đồng/tháng bằng tỷ lệ 6% (2.808.000 đồng) đến 8% (3.744.000 đồng) tiền lương tháng, với mức trần lương tháng 20 lần lương cơ sở - tương tự bảo hiểm xã hội bắt buộc; (ii) Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với phần doanh nghiệp đóng cho người lao động vào quỹ hưu trí bổ sung.
Những quan trọng hơn, cần nhìn nhận đúng vai trò kinh tế vĩ mô của quỹ hưu trí bổ sung. Với quy định đầu tư tối thiểu tới 50% vào Trái phiếu Chính phủ, quỹ hưu trí không chỉ là công cụ an sinh, mà còn là trụ cột huy động vốn dài hạn cho Nhà nước và khu vực tư nhân.
Vì vậy, chúng ta không thể bỏ lỡ mục tiêu kép trong việc phát triển thành công quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung nhằm mang lại hai lợi ích chiến lược.
Một là một hệ thống an sinh xã hội cân bằng hơn, bền vững hơn trong dài hạn.
Hai là một nguồn vốn trung và dài hạn ổn định cho kinh tế tư nhân và Trái phiếu Chính phủ.
Khi cơ chế bắt buộc đã cho thấy sự linh hoạt và tối ưu, thì không có lý do gì để cơ chế tự nguyện – vốn là tương lai của hệ thống hưu trí – tiếp tục bị kìm hãm bởi những ưu đãi thuế lỗi thời. Theo đó, cải cách ưu đãi thuế cho bảo hiểm hưu trí bổ sung không còn là câu chuyện khuyến khích, mà là yêu cầu tất yếu của phát triển.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục có nhiều biến động và sự cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia ngày càng trở nên gay gắt, yêu cầu xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng đang đặt ra những đòi hỏi mới cho mọi thành phần kinh tế. Đặc biệt, khu vực doanh nghiệp nhà nước được xác định là lực lượng nòng cốt trong việc bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế và triển khai nhiều dự án chiến lược quốc gia…
25 dự án trong các lĩnh vực hạ tầng khu công nghiệp, cảng biển, logistics, đô thị, nghỉ dưỡng và công nghiệp chế biến... tại Nghệ An với tổng vốn hơn 110.450 tỷ đồng vừa được trao chấp thuận chủ trương đầu tư và chứng nhận đầu tư...
Sau một thời gian đưa vào vận hành, hệ thống kiosk check-in sinh trắc học tại Cảng Hàng không quốc tế Nội Bài ghi nhận khoảng 3.000-4.000 lượt hành khách sử dụng mỗi ngày, góp phần rút ngắn thời gian làm thủ tục và giảm áp lực tại các khung giờ cao điểm...
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng thống nhất phương án trình Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Khu công nghệ cao Hưng Yên, đồng thời giao UBND tỉnh Hưng Yên ban hành Quy chế hoạt động của khu nhằm bảo đảm đúng quy định pháp luật và đẩy nhanh tiến độ triển khai...
Sáng 31/7, Hội nghị Châu Á của Hiệp hội Kinh tế lượng khu vực Đông Á và Đông Nam Á năm 2026 (AMES 2026) khai mạc tại Hà Nội. Sự kiện do Hiệp hội Kinh tế lượng (Econometric Society), AVSE Global và Trường Đại học Thương mại phối hợp tổ chức...
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.