Quan điểm này được chuyên gia nhấn mạnh tại chuỗi hội thảo kỹ thuật quốc gia “Giải pháp thiết lập và quản lý hiệu quả các khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050” và “Tổng kết thực hiện Kế hoạch hành động bảo tồn rùa biển tại Việt Nam giai đoạn 2016-2025 và định hướng giải pháp giai đoạn 2026 - 2035”.
Sự kiện do Cục Thủy sản và Kiểm ngư, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp cùng Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam và Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) tổ chức ngày 21 - 22/6/2026.
Hội thảo tập trung đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2025 và kế hoạch giai đoạn 2026 - 2030, nhận diện những điểm nghẽn trong tổ chức thực hiện chính sách; đồng thời đề xuất các giải pháp khả thi về thể chế, tổ chức quản lý, huy động nguồn lực và sự tham gia của các bên liên quan trong công tác bảo tồn biển và bảo tồn rùa biển.
Các chuyên gia khẳng định biển và vùng ven biển Việt Nam là không gian sinh thái, kinh tế và sinh kế đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là nơi có giá trị cao về đa dạng sinh học, mà còn là nền tảng góp phần cho phát triển các ngành kinh tế biển, bảo đảm sinh kế cho khoảng 20 triệu người dân ven biển và tăng khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu.
Hệ sinh thái biển và ven biển không chỉ là nền tảng duy trì đa dạng sinh học mà còn là nơi cư trú, sinh sản của nhiều loài thủy sinh quý hiếm. Việc bảo tồn các hệ sinh thái này, thông qua phát triển hiệu quả hệ thống khu bảo tồn biển, chính là giải pháp then chốt để bảo vệ các loài, phục hồi nguồn lợi và bảo đảm phát triển kinh tế biển bền vững trong dài hạn.”
Hiện nay, Việt Nam đã thành lập 7 khu bảo tồn biển (Bạch Long Vỹ, Cô Tô - Đảo Trần, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Hòn Cau, Cà Mau, Phú Quốc), 5 khu vực biển được quản lý trong Vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên (Cát Bà, Bái Tử Long, Núi Chúa, Côn Đảo, Cù Lao Chàm) với tổng diện tích vùng biển được khoanh vùng bảo tồn khoảng 215.191 ha, chiếm khoảng 0,215% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia.
Bên cạnh đó, có 7 khu vực biển đang được các địa phương lập dự án thành lập khu bảo tồn biển theo pháp luật thủy sản (Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, Cát Bà - Long Châu, Hòn Ngư - Đảo Mắt, vịnh Quy Nhơn, vịnh Nha Trang, Phú Quý).
Dự kiến hết năm 2026 sẽ có 14/27 khu bảo tồn biển được thành lập theo Quy hoạch bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Theo Quyết định số 1539/QĐ-TTg ngày 10/12/2024 của Thủ tướng Chính phủ, Việt Nam đặt mục tiêu diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia vào năm 2030.
Tuy nhiên, thách thức hiện nay không chỉ là mở rộng diện tích, mà còn là bảo đảm nguồn lực quản lý, đầu tư cơ sở hạ tầng, tăng cường phối hợp liên ngành và xây dựng hệ thống theo dõi, đánh giá hiệu quả quản lý thống nhất.
Cũng tại hội thảo, dự thảo Bộ chỉ số đánh giá hiệu quả quản lý khu bảo tồn biển tại Việt Nam đang được Cục Thủy sản và Kiểm ngư hoàn thiện, với sự hỗ trợ kỹ thuật từ UNDP đã được giới thiệu. Bộ chỉ số là sự kết hợp giữa các khung phương pháp luận quốc tế, cách tiếp cận hệ sinh thái, và bối cảnh pháp lý- quản lý cụ thể của Việt Nam.
Bộ chỉ số gồm 24 chỉ số, được phân bổ theo 5 nhóm nội dung, phản ánh các hợp phần chính của công tác quản lý khu bảo tồn biển từ quản trị, lập kế hoạch, nguồn lực, quá trình thực hiện đến kết quả và tác động của công tác bảo tồn biển.
Bên cạnh đó, các chuyên gia cũng làm rõ vai trò và sự tham gia của các tổ chức ngoài công lập trong công tác quản lý khu bảo tồn biển.
Thực tế, quản lý khu bảo tồn biển là lĩnh vực đòi hỏi nguồn lực lớn, đa dạng về chuyên môn, trong khi ngân sách nhà nước còn hạn chế. Do đó, việc thu hút các tổ chức ngoài công lập tham gia quản lý khu bảo tồn biển ở Việt Nam giúp bổ sung nguồn lực, tăng tính linh hoạt và đổi mới trong quản trị, là xu hướng phổ biến trong quản trị tài nguyên theo hướng xã hội hóa, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý khu bảo tồn biển, thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững.
Các chuyên gia nhấn mạnh rằng nếu được triển khai đúng hướng, đây không chỉ là một bước tiến về mặt quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn biển, mà còn là nền tảng để gắn bảo tồn với phát triển kinh tế biển bền vững, phục hồi nguồn lợi, tăng khả năng chống chịu của vùng biển ven bờ, ven đảo và bảo đảm sinh kế cộng đồng trong dài hạn. Thông qua đó, đóng góp quan trọng vào mục tiêu phát triển bền vững ngành kinh tế biển Việt Nam.
Trung Quốc đã hoàn tất kết cấu chính của nền tảng ngoài khơi đầu tiên được thiết kế để bơm CO₂ trở lại các cấu tạo địa chất dưới đáy biển, vừa nâng cao khả năng thu hồi khí tự nhiên, vừa lưu trữ carbon lâu dài…
Ngành bao bì đang bước ra khỏi câu chuyện vật liệu và xử lý chất thải để trở thành một phần của năng lực cạnh tranh, khi cả thị trường trong nước và các thị trường xuất khẩu lớn cùng nâng yêu cầu về khả năng tái chế, hàm lượng tái sinh và minh bạch thông tin...
Trong bối cảnh Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) và các yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế, cà phê Tây Bắc không chỉ cần chứng minh sản phẩm được trồng ở đâu mà còn phải trả lời được câu hỏi sản xuất như thế nào, có phù hợp với điều kiện tự nhiên hay không và tạo ra giá trị gì...
Đối thoại Quy Nhơn về khí hậu và chuyển đổi lần đầu tiên sẽ diễn ra tại Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành (ICISE), tỉnh Gia Lai trong 2 ngày 10-11/10/2026. Sự kiện hướng tới kết nối khoa học, chính sách, tài chính và thực tiễn để thúc đẩy các sáng kiến, hợp tác ứng phó với biến đổi khí hậu và chuyển đổi theo hướng phát thải carbon thấp...
Trong bối cảnh du khách ngày càng tìm kiếm những kỳ nghỉ đa trải nghiệm, mô hình nghỉ dưỡng all-inclusive đang trở thành xu hướng phát triển mới tại Việt Nam...
Việt Nam đã vươn lên thành một trong những “cường quốc xuất khẩu” trên thế giới. Tuy nhiên, đằng sau kim ngạch hàng trăm tỷ USD và những dòng hàng hóa đã đi khắp các thị trường, thương hiệu Việt vẫn đang đối mặt với bài toán định vị và nâng cao giá trị trên bản đồ toàn cầu.
Tăng trưởng nhanh sẽ kéo theo những thay đổi lớn. Nếu người dân không được lắng nghe, doanh nghiệp thiếu niềm tin và các nhóm chịu tác động không được hỗ trợ thích đáng, chi phí xã hội của quá trình cải cách sẽ tăng lên.