
Giá chè xuất khẩu trung bình của nước ta thời gian qua đã tăng trên 100 USD/tấn, lên 1.340 USD/tấn.
Theo tin từ Hiệp hội Chè Việt Nam (Vitas), 5 tháng đầu năm, ngành chè đã xuất khẩu được 45 nghìn tấn, đạt kim ngạch 62 triệu USD, tăng 11,3% về lượng và 22,2 % về kim ngạch.
Ước tính, trong tháng 6 này, lượng chè xuất khẩu sẽ đạt khoảng 20 nghìn tấn. Như vậy, hai quý đầu năm toàn ngành ước sẽ xuất khẩu được 60 nghìn tấn, thu về kim ngạch 80 triệu USD. So với cùng kỳ con số này đã tăng 25% về lượng và 30% về giá trị.
Theo Vitas, tốc độ tăng kim ngạch lớn hơn khối lượng xuất khẩu là do thời gian qua, giá chè xuất khẩu của Việt Nam đã tăng trên 100 USD/tấn lên 1.340 USD/tấn - mức giá cao nhất từ trước tới nay.
Ông Nguyễn Văn Thụ, chuyên gia của ngành chè còn cho rằng, ngoài yếu tố giá chè thế giới tăng, thì sản phẩm chè sản xuất trong nước cũng đã từng bước được nâng cao chất lượng. Xuất khẩu chè đã qua tinh chế cũng bắt đầu tăng. Bên cạnh đó xây dựng, quảng bá thương hiệu là điều cũng đã được các doanh nghiệp ngành chè chú ý tới.
Tuy nhiên, ngay cả khi xuất khẩu được với mức giá đáng phấn khởi trên, thì giá chè xuất khẩu của Việt Nam mới chỉ bằng 40-50% giá chè xuất khẩu của các nước trên thế giới. Chè xuất ở dạng nguyên liệu thô, đóng bao 50 kg hiện vẫn chiếm tới 90% lượng xuất khẩu. Điều này quả là “nghịch lý” khi Việt Nam đang đứng thứ 5 trên thế giới về xuất khẩu chè.
Song điều này chỉ có thể giải quyết triệt để khi vùng nguyên liệu và chè nguyên liệu đáp ứng tốt hơn với nhu cầu của sản xuất. Hiện cả nước có tới 635 nhà máy chế biến, nhưng vùng nguyên liệu có nơi chỉ đáp ứng được 40%, nên đã dẫn tới tình trạng tranh mua, tranh bán nguyên liệu.
Người trồng chè vì lợi nhuận đã tăng cường sử dụng thuốc trừ sâu, phân bón hoá học để tăng năng suất. Chất lượng sản phẩm không đồng đều là nguyên nhân kéo giá bán chè của Việt Nam xuống thấp tại thị trường thế giới.
Với việc được xếp cùng nhóm các nền kinh tế lớn châu Á như: Nhật Bản, Ấn Độ và Singapore, Việt Nam không chỉ khẳng định vị thế là thị trường tiêu thụ nông sản ổn định mà đang trở thành mắt xích chiến lược không thể thiếu trong chuỗi giá trị nông nghiệp của Argentina...
Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu có nhiều biến động, Thổ Nhĩ Kỳ nổi lên như một thị trường trọng điểm và là “cửa ngõ” giao thương huyết mạch nối liền ba châu lục Á - Âu - Phi. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành các đơn hàng thực tế, doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động nhận diện thách thức về rào cản kỹ thuật, quản trị rủi ro tài chính và chuẩn hóa tiêu chuẩn Halal...
Xuất khẩu tôm tiếp tục là điểm sáng của ngành thủy sản trong nửa đầu năm 2026 khi đạt tốc độ tăng trưởng hai con số, với động lực chủ yếu đến từ thị trường Trung Quốc và sự bứt phá của mặt hàng tôm hùm. Tuy nhiên, phía sau những con số tích cực, doanh nghiệp vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức từ chính sách thuế tại Hoa Kỳ và chi phí logistics gia tăng...
Dù đạt mức tăng trưởng ấn tượng trong 6 tháng đầu năm 2026, song xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đang đối mặt với những rủi ro gia tăng từ các vụ điều tra phòng vệ thương mại, rào cản thuế quan và xu hướng thắt chặt chính sách từ chính quyền sở tại...
Do căng thẳng leo thang trở lại giữa Mỹ và Iran, giao thông hàng hải qua eo biển Hormuz lại giảm mạnh sau đợt phục hồi ngắn ngủi vào cuối tháng 6 đầu tháng 7...
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.