Sau khi tăng nhẹ 500 nghìn đồng/lượng trong phiên hôm qua (5/3), giá mua, bán vàng miếng SJC tại các đơn vị kinh doanh đảo chiều giảm mạnh gần cả triệu đồng. Giá bán vàng miếng SJC trong phiên sáng nay (6/3) chủ yếu neo ở mức 183,8 triệu đồng/lượng.
Mở cửa phiên sáng, giá mua, bán vàng miếng tại Công ty SJC giảm 2,2 triệu đồng/lượng mỗi chiều, đặt ở mức 179,5 triệu – 182,5 triệu đồng/lượng.
Sau gần 1 giờ mở cửa, thương hiệu này điều chỉnh tăng lại 1,3 triệu đồng/lượng mỗi chiều. Công ty SJC niêm yết giá mua vàng miếng ở mức 180,8 triệu đồng/lượng và giá bán ra là 183,8 triệu đồng/lượng. Mức giá giao dịch trên duy trì đến hết phiên sáng. So với giá chốt phiên 5/3, giá vàng miếng SJC tại thương hiệu này giảm tổng cộng 900 nghìn đồng/lượng.
Sau khi tăng nhẹ 500 nghìn đồng/lượng trong phiên hôm qua (5/3), giá mua, bán vàng miếng SJC tại các đơn vị kinh doanh đảo chiều giảm mạnh gần cả triệu đồng. Giá bán vàng miếng SJC trong phiên sáng nay (6/3) chủ yếu neo ở mức 183,8 triệu đồng/lượng.
Mức giá giao dịch 180,8 triệu – 183,8 triệu đồng/lượng cũng được niêm yết tại DOJI, PNJ, Bảo Tín Minh Châu, Bảo Tín Mạnh Hải và Ngọc Thẩm. Giá mua, bán vàng miếng tại các thương hiệu này cũng giảm 900 nghìn đồng/lượng.
Sau 3 nhịp điều chỉnh tăng, giảm đan xen, giá mua, bán vàng miếng tại Phú Quý chốt phiên sáng niêm yết ở mức 181 triệu – 183,8 triệu đồng/lượng. So với giá chốt phiên 5/3, giá vàng miếng SJC tại thương hiệu này giảm 1 triệu đồng/lượng đối với chiều mua và 900 nghìn đồng/lượng đối với chiều bán
Tại khu vực phía Nam, giá mua, bán vàng miếng SJC tại Mi Hồng giảm lần lượt 700 nghìn đồng/lượng và 900 nghìn đồng/lượng. Mi Hồng niêm yết giá giao dịch vàng miếng SJC chốt phiên sáng ở mức 181,3 triệu – 183,8 triệu đồng/lượng. So với các thương hiệu còn lại, giá mua vàng miếng tại thương hiệu này cao hơn khoảng 500 nghìn đồng/lượng.
Theo sát diễn biến trên thị trường vàng miếng, giá mua, bán vàng nhẫn “4 số 9” tại các đơn vị kinh doanh cũng đồng loạt giảm phổ biến 900 nghìn đồng/lượng mỗi chiều. Duy chỉ có một doanh nghiệp phía Nam giữ nguyên giá giao dịch vàng nhẫn.
Giá mua, bán vàng nhẫn “4 số 9” tại Ngọc Thẩm vẫn duy trì ổn định ở mức 175 triệu – 179 triệu đồng/lượng. Chốt phiên sáng, Ngọc Thẩm giữ nguyên mức giá giao dịch trên. So với giá chốt phiên 5/3, giá mua, bán vàng nhẫn tại thương hiệu này không đổi.
Sau khi tăng 500 nghìn đồng/lượng mỗi chiều trong phiên 5/3, giá mua, bán vàng nhẫn “4 số 9” tại Công ty SJC giảm 2,2 triệu đồng/lượng, niêm yết ở mức 179,2 triệu – 182,2 triệu đồng/lượng ngay khi mở cửa phiên sáng.
Trong gần 1 tiếng mở cửa, thương hiệu này điều chỉnh tăng lại 1,3 triệu đồng/lượng mỗi chiều, niêm yết tại 180,5 triệu - 183,5 triệu đồng/lượng và giữ nguyên đến hết phiên sáng. So với giá chốt phiên 5/3, giá vàng nhẫn tại thương hiệu này giảm tổng cộng 900 nghìn đồng/lượng.
Ngoại trừ Công ty SJC và Ngọc Thẩm niêm yết giá vàng nhẫn thấp hơn giá vàng miếng SJC, các đơn vị kinh doanh lại đều đặt giá mua, bán vàng nhẫn ở mức tương đương so với vàng miếng.
Sau khi giảm 2,2 triệu đồng/lượng, giá vàng nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng tại DOJI và vàng nhẫn trơn 9999 tại PNJ và Phú Quý cùng niêm yết ở mức 179,5 triệu – 182,5 triệu đồng/lượng ngay khi mở cửa phiên sáng.
Cả hai đơn này lập tức tăng thêm 1,3 triệu đồng/lượng mỗi chiều, đặt giao dịch vàng nhẫn ở mức. 180,8 triệu – 183,8 triệu đồng/lượng và duy trì đến hết phiên sáng. Giá vàng nhẫn tại ba thương hiệu trên cũng giảm 900 nghìn đồng/lượng.
Chênh lệch giá mua, bán vàng trang sức tại tất cả các đơn vị kinh doanh đều cao hơn so với vàng nhẫn “4 số 9” 1 triệu đồng, đồng loạt ở mức 4 triệu đồng/lượng.
Mức giá giao dịch 180,8 triệu – 183,8 triệu đồng/lượng cũng được niêm yết tại Bảo Tín Minh Châu và Bảo Tín Mạnh Hải trong suốt phiên sáng. Giá mua, bán vàng nhẫn tròn trơn tại Bảo Tín Minh Châu và vàng nhẫn tròn ép vỉ Kim Gia Bảo 999.9 tại Bảo Tín Mạnh Hải cũng giảm 900 nghìn đồng/lượng.
Trong khi đó, đối với sản phẩm vàng trang sức, Phú Quý là đơn vị duy nhất điều chỉnh tăng giá giao dịch trong phiên sáng.
Đóng cửa phiên sáng, đơn vị này niêm yết giá giao dịch ở mức 179,3 triệu – 183,3 triệu đồng/lượng (vàng trang sức 9999) và 179,2 triệu – 183,2 triệu đồng/lượng (vàng trang sức 999). So với giá chốt phiên 5/3, giá mua, bán vàng trang sức tại đơn vị này tăng 300 nghìn đồng/lượng mỗi chiều.
Ngược lại, cập nhật bảng giá tại các đơn vị còn lại, giá mua, bán vàng trang sức đều ghi nhận mức giảm phổ biến là 900 nghìn đồng/lượng. Chốt phiên sáng, Công ty SJC đặt giá giao dịch vàng trang sức 9999 tại 178,5 trịệu – 182 triệu đồng/lượng (mua – bán), tại DOJI là 179,6 trịệu – 183,6 trỉệu đồng/lượng và tại PNJ là 178,9 trịệu – 182,9 trỉệu đồng/lượng
Trang sức vàng Rồng Thăng Long 9999 tại Bảo Tín Minh Châu và vàng trang sức 9999 tại Bảo Tín Mạnh Hải cùng niêm yết tại 178,8 triệu – 182,8 triệu đồng/lượng.
Trên thị trường thế giới, tính đến 13 giờ ngày 6/3, hợp đồng giá vàng giao ngay tiếp tục tăng hơn 0,6%, tiến lên mốc 5.117 USD/oz. Như vậy, giá vàng thế giới diễn biến ngược chiều giá vàng trong nước.
Theo tỷ giá Vietcombank (đã bao gồm thuế và phí...), chênh lệch giữa giá vàng miếng và giá vàng thế giới phổ biến ở mức 19,84 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, đối với giá vàng nhẫn “4 số 9”, tùy thương hiệu, khoảng cách này dao động từ 15,04 – 19,84 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) vừa triển khai chương trình tín dụng ưu đãi với lãi suất cho vay chỉ từ 6,0%/năm (giảm tới 2,0%/năm so với mức lãi suất thông thường) tùy theo kỳ hạn và lĩnh vực vay vốn.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước khẩn trương triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay từ 1,5-2% đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp...
Giá vàng thế giới giảm nhẹ trong phiên giao dịch ngày thứ Sáu (16/10), hoàn tất một tuần đi xuống, dù tỷ giá đồng USD và lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ cùng giảm...
Năm 2026 tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa quan trọng: là năm đầu của kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Ba phần tư chặng đường của năm đã đi qua, nền kinh tế đạt những kết quả tích cực, song vẫn còn không ít vấn đề cần được giải quyết để hoàn thành các mục tiêu đề ra cho cả năm.
Hồi năm 2012, bản đồ nợ của châu Âu vẫn còn rất đơn giản: ở phía Bắc là nhóm các quốc gia cốt lõi với chi phí vay thấp, trong đó Đức đóng vai trò trung tâm, còn ở phía Nam là nhóm các quốc gia ngoại vi với nợ nần chồng chất...
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Thực tế, sau 9 tháng năm 2026, dù kinh tế ghi nhận nhiều kết quả tích cực, chỉ có 12/34 tỉnh, thành phố đạt mức tăng trưởng hai con số. Bài toán đặt ra không chỉ là huy động thêm nguồn lực, mà còn là nâng cao năng lực thực thi và chuyển hóa nguồn lực thành giá trị thực chất.