
Trong giai đoạn năm 2021–2025, dù có nhiều thiên tai và biến động kinh tế toàn cầu tác động vào Việt Nam, nhưng việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững đã đạt được nhiều kết quả tích cực.
Chỉ tính đến hết tháng 3/2025 tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giảm xuống còn 1,93%, giảm mạnh so với mức 5,2% đầu giai đoạn. Tính ra, tốc độ giảm bình quân trên 1,6% mỗi năm, kết quả này vượt mục tiêu giảm từ 1–1,5%/năm mà Quốc hội đặt ra.
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng, tỷ lệ hộ nghèo tại các huyện nghèo đến cuối năm 2024 giảm còn khoảng 25%, từ mức gần 45% đầu kỳ.
Như vậy, tại các huyện nghèo, nơi từng được coi là “điểm nóng” về thiếu việc làm, thiếu sinh kế và hạ tầng yếu kém, tỷ lệ hộ nghèo cũng đã giảm xuống rất mạnh so với mức trên 50% của nhiều năm trước.Tại các huyện này, hơn 5.200 hộ dân vươn lên thoát nghèo và gần 262.000 công trình hạ tầng nông thôn được hoàn thành.
Nhìn chung, đây là dấu hiệu cho thấy chính sách "khoanh vùng – đầu tư tập trung – hỗ trợ linh hoạt" đang phát huy hiệu quả.
Về tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số, nhóm chịu thiệt thòi nhất, cũng đã giảm còn 12,55%, ghi nhận mức giảm bình quân 3% mỗi năm.
Một chỉ số đáng chú ý khác là số lượng tuyệt đối các hộ nghèo và cận nghèo trong cả nước đã giảm đáng kể. Nếu đầu giai đoạn 2021–2025, cả nước có hơn 2,6 triệu hộ nghèo và cận nghèo, thì đến thời điểm hiện tại, con số này đã giảm còn khoảng 1,25 triệu hộ, tương đương giảm 52,49%.
Kết quả này cho thấy cách tiếp cận đa chiều và có địa chỉ cụ thể trong hỗ trợ giảm nghèo đã phát huy tác dụng. Các địa phương không còn chạy theo thành tích “xóa nghèo giấy”, mà tập trung vào tăng sinh kế, cải thiện dịch vụ xã hội cơ bản và ổn định đời sống lâu dài cho người dân.
Cũng theo Thứ trưởng Võ Văn Hưng, giảm nghèo không chỉ là mục tiêu kinh tế mà còn là trách nhiệm nhân đạo và xã hội. “Mỗi hộ dân thoát nghèo là một câu chuyện về nỗ lực vươn lên và sự hỗ trợ kịp thời từ chính sách”.
Chương trình mục tiêu quốc gia với chính sách từ “hỗ trợ cho ăn” chuyển sang “giúp cần câu” cho hộ nghèo, đã hỗ trợ triển khai trên 10.500 mô hình sinh kế tại cộng đồng, gần 134.000 lao động nghèo và cận nghèo đã được tư vấn, kết nối việc làm. Nhiều địa phương đã gắn việc hỗ trợ đào tạo nghề với nhu cầu thực tế của thị trường lao động tại chỗ và xuất khẩu lao động.
Các mô hình hỗ trợ chăn nuôi, làm nông nghiệp hữu cơ và đào tạo kỹ năng nghề, khởi sự doanh nghiệp không chỉ cải thiện thu nhập, mà còn giúp người dân thoát nghèo một cách tự chủ và bền vững.
Ngoài ra, Chương trình giảm nghèo bền vững còn đầu tư mạnh vào hạ tầng thiết yếu cho vùng nghèo, với hơn 2.600 công trình hạ tầng được xây dựng hoặc cải tạo, như đường giao thông nông thôn, điện, nước sạch, trường học và trạm y tế.
Cùng với đó, khoảng 90.000 căn nhà cho hộ nghèo tại các huyện nghèo đã được xây mới hoặc sửa chữa, giúp ổn định nơi ở và tạo nền tảng để người dân yên tâm phát triển sinh kế.
So với giai đoạn trước, quy mô và chất lượng đầu tư hạ tầng trong giai đoạn này được đánh giá đồng bộ hơn và bám sát nhu cầu thực tế, thay vì trải rộng và kém hiệu quả. Với việc cải thiện dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe nhóm nghèo, đặc biệt là trẻ em và phụ nữ mang thai đã có tác động cải thiện chỉ số nghèo đa chiều (liên quan y tế, dinh dưỡng, giáo dục) trong dài hạn.
Các kết quả như trên cho thấy hiệu quả thực thi Chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn này có nhiều tiến bộ hơn so với giai đoạn trước. Có được điều này là nhờ vào bốn yếu tố.
Trước hết, đó là cách xác định nghèo, nhờ cách tiếp cận đa chiều và tích hợp về nghèo nên từ đó tìm sinh kế giảm nghèo bền vững phù hợp.
Thứ hai, áp dụng công nghệ số và điều tra hộ nghèo điện tử để minh bạch hóa tiêu chí, đối tượng giảm nghèo.
Thứ ba, giảm sự phụ thuộc vào hỗ trợ tiền mặt đơn thuần, thay vào đó là hỗ trợ có điều kiện, gắn với cam kết vươn lên của người dân.
Thứ tư, các mô hình hỗ trợ sinh kế mang tính dài hạn thực sự đóng vai trò làm giảm mạnh tỷ lệ tái nghèo.
Với những kết quả đó, hy vọng đến cuối năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo toàn quốc có thể giảm xuống còn dưới 1,5%, vượt chỉ tiêu mà Quốc hội và Chính phủ đặt ra.
Tiếp tục mở rộng Chuyên án 268V đấu tranh với đường dây buôn lậu kim cương xuyên quốc gia, ngày 20/7/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa đã ra quyết định khởi tố thêm bốn bị can về tội "Buôn lậu" và thu giữ thêm 354 viên kim cương các loại với tổng trị giá khoảng 68,8 tỷ đồng...
Dự thảo Nghị quyết bổ sung quy định về xác định chủ sở hữu gián tiếp. Điều này nhằm khắc phục trực tiếp những bất cập của quy định hiện hành về tiêu chí xác định chủ sở hữu hưởng lợi, đặc biệt đối với trường hợp sở hữu gián tiếp, sở hữu hoặc kiểm soát chung và các cấu trúc sở hữu nhiều tầng...
Bộ Nội vụ đề xuất tăng lương tối thiểu vùng 7,8% từ ngày 1/1/2027, tương ứng tăng từ 310.000 đồng - 390.000 đồng so với mức lương tối thiểu hiện hành...
Bộ Nội vụ thống nhất báo cáo Chính phủ về đề xuất điều chỉnh địa bàn áp dụng lương tối thiểu vùng tại 5 tỉnh/thành phố là Hải Phòng, Hưng Yên, Đà Nẵng, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh…
Từng bị xem là loài cỏ dại mọc ven bờ ruộng, rau má ở làng cổ Đông Sơn (phường Hàm Rồng, tỉnh Thanh Hóa) nay đã trở thành cây trồng chủ lực của nhiều hộ dân, mang lại nguồn thu nhập ổn định hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Sự chuyển đổi từ những ruộng hoa màu kém hiệu quả sang trồng rau má không chỉ nâng cao giá trị kinh tế trên cùng diện tích đất mà còn góp phần gìn giữ một loài cây đã gắn bó với vùng đất cổ suốt hàng nghìn năm.
Theo thống kê mới nhất từ Bộ Tài chính, hiện cả nước có 859.048 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 97%. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ khu vực kinh tế này, nhưng trong quá trình thực thi vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần sớm được tháo gỡ.
Từng bị xem là loài cỏ dại mọc ven bờ ruộng, rau má ở làng cổ Đông Sơn (phường Hàm Rồng, tỉnh Thanh Hóa) nay đã trở thành cây trồng chủ lực của nhiều hộ dân, mang lại nguồn thu nhập ổn định hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Sự chuyển đổi từ những ruộng hoa màu kém hiệu quả sang trồng rau má không chỉ nâng cao giá trị kinh tế trên cùng diện tích đất mà còn góp phần gìn giữ một loài cây đã gắn bó với vùng đất cổ suốt hàng nghìn năm.