Theo số liệu từ Bộ Công Thương, ngành Công thương hiệu có 9 trường đại học và 20 trường cao đẳng. Là một ngành “đồ sộ”, vai trò của hoạt động nghiên cứu khoa học trong các trường càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Các số liệu cho thấy giai đoạn 2021 - 2025, hệ thống các trường thuộc Bộ Công Thương có tới 26.845 sản phẩm khoa học, hơn 10.000 bài báo quốc tế và 90 đề tài cấp quốc gia.
VẪN CÒN TÌNH TRẠNG NGHIÊN CỨU CHƯA ĐỒNG ĐỀU
Tại tọa đàm: “Phát triển nghiên cứu khoa học trong các trường đại học: Động lực nâng cao chất lượng đào tạo” ngày 8/12/2025, TS Vũ Anh Hoàng, Chuyên viên chính Vụ Tổ chức Cán bộ, Bộ Công Thương, nhận định: năng lực nghiên cứu của hệ thống các cơ sở đào tạo của Bộ Công Thương hiện nay không chỉ bắt kịp được những chuẩn mực về quốc tế, mà còn tiệm cận các nhóm cơ sở đào tạo hàng đầu trong nước cũng như một số các cơ sở đào tạo trong khu vực ASEAN. Điều này cũng khẳng định được khả năng làm chủ và lan tỏa tri thức mới, một trong những yếu tố cốt lõi của công tác chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đổi mới công nghiệp.
Theo PGS.TS Trịnh Trọng Chưởng, Trưởng Phòng Khoa học Công nghệ, Đại học Công nghiệp Hà Nội, hiện nay, nếu đánh giá theo mức độ sẵn sàng về công nghệ, Việt Nam đang ở mức khoảng 4–5, chỉ có rất ít sản phẩm đạt mức 8–9. Điều đó cho thấy dư địa phát triển các sản phẩm khoa học – công nghệ còn rất lớn.
Vì vậy, nếu thúc đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu sáng tạo của sinh viên trong các trường đại học, đây sẽ là kỳ vọng rất lớn, đồng thời tạo tác động ngược trở lại đối với chương trình đào tạo, khi sinh viên tham gia trực tiếp vào hoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo một cách thiết thực.
Tuy nhiên, khó khăn trong công tác nghiên cứu khoa học ở các trường đại học, theo PGS.TS Trịnh Trọng Chưởng là vấn đề nguồn lực. Mặc dù trường có lực lượng cán bộ giảng viên lớn, nhưng thiếu giảng viên chất lượng cao và uy tín tầm quốc tế.
Bên cạnh đó, dù từ năm 2024, Bộ Chính trị, Chính phủ và các Bộ, Ngành đã ban hành nhiều văn bản, luật, nghị định, thông tư hướng dẫn liên quan đến phát triển khoa học công nghệ, nhưng khâu tổ chức thực hiện vẫn còn độ trễ nhất định, cần thời gian và cần tiếp cận dần với tư duy mới.
Mặt khác, sự tin tưởng giữa nhà trường và doanh nghiệp hiện chưa thực sự cao. Các cơ sở đào tạo vẫn còn thiên về nghiên cứu hàn lâm, trong khi các công trình cần phải gắn với doanh nghiệp, tức là doanh nghiệp đặt hàng nhà trường, từ kết quả nghiên cứu sinh ra công bố khoa học thì mới bền vững.
Thừa nhận bên cạnh kết quả tích cực, TS Vũ Anh Hoàng cũng cho rằng vẫn còn tình trạng nghiên cứu chưa đồng đều giữa các cơ sở, nhất là khối cao đẳng; đồng thời đưa ra 3 “điểm nghẽn” của vấn đề này.
Thứ nhất, nguồn lực tài chính dành cho nghiên cứu khoa học tại các cơ sở đào tạo chưa tương xứng với nhu cầu phát triển. Các cơ sở đào tạo chưa đa dạng hóa được nguồn lực tài chính cho khoa học – công nghệ. Hiện nay, nguồn lực chủ yếu vẫn đến từ ngân sách nhà nước, một phần từ các dự án quốc tế hoặc doanh nghiệp tài trợ. Nguồn lực tự thân của các cơ sở đào tạo còn hạn chế (trừ một số đơn vị lớn).
Thứ hai, các thủ tục từ khâu đề xuất, triển khai, nghiệm thu đến thanh quyết toán vẫn còn tương đối phức tạp. Đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành và triển khai các ý tưởng nghiên cứu mới, gây khó khăn không chỉ cho hoạt động khoa học – công nghệ trong nước mà cả cho hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này.
Thứ ba, các cơ sở đào tạo đang thiếu các nhà khoa học đầu ngành có uy tín quốc tế và có khả năng dẫn dắt các nhóm nghiên cứu mạnh. Đồng thời, giảng viên hiện nay phải gánh vác nhiều nhiệm vụ ngoài nghiên cứu như giảng dạy, hướng dẫn sinh viên và thực hiện các công việc hành chính, nhất là tại những cơ sở chuyển đổi số chưa hoàn thiện. Bên cạnh đó, năng lực nghiên cứu giữa các giảng viên còn chưa đồng đều.
THÁO GỠ BẰNG TỰ CHỦ ĐẠI HỌC VÀ HỢP TÁC DOANH NGHIỆP
Trước các “điểm nghẽn” trên, TS Vũ Anh Hoàng bày tỏ sự tin tưởng vào các chủ trương, chính sách mới được Bộ Chính trị ban hành, như Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, cùng với Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, sẽ từng bước tháo gỡ vướng mắc, tạo đà cho khoa học – công nghệ phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn 2026–2030.
Cụ thể, về nguồn lực tài chính, cơ chế tự chủ đại học ngày càng được tăng cường thông qua việc sửa đổi Luật Giáo dục đại học và các nghị định hướng dẫn đã trao quyền tự chủ về tài chính, sử dụng cơ sở vật chất và đầu tư cho các cơ sở giáo dục đại học, qua đó từng bước tháo gỡ điểm nghẽn liên quan đến nguồn lực.
Về thủ tục hành chính, việc triển khai Chính phủ số và chuyển đổi số trong quản lý hành chính sẽ góp phần cắt giảm, đơn giản hóa các quy trình trong hoạt động khoa học và công nghệ, từ đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.
Cuối cùng, với việc có các đề án phát triển một số trường đại học trọng điểm trở thành các trung tâm nghiên cứu mạnh, hình thành các nhóm nghiên cứu trọng điểm… những chính sách này được triển khai kịp thời sẽ từng bước tháo gỡ điểm nghẽn về thiếu đội ngũ nhà khoa học đầu ngành, qua đó thúc đẩy sự phát triển khoa học – công nghệ tại các cơ sở đào tạo trong thời gian tới.
TS Thái Doãn Thanh, Phó Hiệu trưởng Đại học Công Thương TP.Hồ Chí Minh, kỳ vọng Luật Khoa học và Công nghệ, các chính sách về đổi mới sáng tạo và Nghị quyết 57 sẽ sớm được cụ thể hóa đồng bộ về cơ chế tài chính, hợp tác, sử dụng và phối hợp nguồn nhân lực. Khi đó, các cơ sở giáo dục đại học sẽ có thêm động lực mạnh mẽ để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ.
Nhằm tạo ra nguồn nhân lực và sản phẩm nghiên cứu sát với nhu cầu thực tiễn, dưới góc độ doanh nghiệp, ông Đào Việt Bách, Giám đốc Khối Hướng nghiệp và Việc làm, Rikkei Education (Tập đoàn Rikkeisoft), cho rằng doanh nghiệp cần thay đổi tư duy: thay vì chỉ là người sử dụng lao động thì phải trở thành người đồng kiến tạo cùng với nhà trường.
Doanh nghiệp cần tham gia vào quá trình đào tạo ngay từ sớm bằng cách cùng nhà trường đưa các bài toán thực tế vào giảng dạy, giúp giảng viên có thêm ví dụ dự án cụ thể để hướng dẫn sinh viên trong quá trình học tập và thực hành. Bên cạnh đó, doanh nghiệp có thể cung cấp đội ngũ mentor, chuyên gia tham gia vào hoạt động đào tạo.




Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn (TCSG) được công nhận đạt Thương hiệu Quốc gia Việt Nam năm 2026 đối với hai nhóm dịch vụ: khai thác cảng; dịch vụ logistics, vận tải hàng hóa và các ngành kinh tế biển. Đây là lần thứ 9 liên tiếp TCSG được ghi nhận qua các kỳ xét chọn, đánh dấu hành trình duy trì và cải tiến chất lượng dịch vụ trong 18 năm.
Trong xu thế chuyển dịch năng lượng toàn cầu, điện gió ngoài khơi đang vượt khỏi phạm vi của một nguồn điện tái tạo để trở thành một ngành công nghiệp mới, kéo theo cả hệ sinh thái từ khảo sát biển, chế tạo kết cấu, cáp và thiết bị điện, cảng biển, tàu dịch vụ, logistics, tài chính, bảo hiểm, đến vận hành, bảo dưỡng và công nghệ số. Để biến những cánh đồng gió ngoài khơi thành động lực tăng trưởng mới, Việt Nam cần đồng thời giải quyết bài toán quy hoạch không gian và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lực công nghiệp ngoài khơi.
Muốn trở thành một quốc gia biển mạnh, Việt Nam không chỉ cần khai thác tốt hơn các nguồn lực từ biển mà còn phải từng bước làm chủ năng lực thiết kế, chế tạo, vận hành và cung cấp công nghệ cho các hoạt động trên biển.
Trong nhiều thập niên đã qua, lợi thế của du lịch biển thường được đo bằng số lượng bãi tắm đẹp hay lượng khách đến mỗi năm. Trong xu thế du lịch ngày càng cạnh tranh, những lợi thế ấy chỉ là điều kiện ban đầu.
Trong tiến trình chuyển dịch năng lượng, dầu khí Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt lớn: giá trị của ngành không còn chỉ được đo bằng sản lượng dầu, khí khai thác được từ lòng biển, mà ngày càng nằm ở năng lực khảo sát, thiết kế, chế tạo, lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng, logistics, quản trị an toàn và làm chủ các công trình ngoài khơi. Nếu được nhìn nhận như một nền tảng công nghiệp và công nghệ, những năng lực được tích lũy qua nhiều thập kỷ có thể trở thành bệ phóng để Việt Nam bước vào các chuỗi giá trị mới.
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Theo Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc, xi măng đất sét nung (LC3) là vật liệu xây dựng mới và bền vững. Chi phí đầu tư thấp, thân thiện với môi trường và khí hậu hơn so với xi măng thông thường... việc phát triển, phổ biến xi măng hỗn hợp phù hợp với mục tiêu sản xuất và tiêu dùng bền vững mà Chính phủ đã đề ra.