Khối u nợ xấu đã chuyển sang một dạng biến thể mới, trong khi một chính sách đủ tầm và đủ mạnh vẫn còn thai nghén sau hơn 5 năm đã trôi qua.
Trước tiên, cần khẳng định: nợ xấu là một phạm trù luôn tồn tại song hành cùng hoạt động kinh doanh của các ngân hàng.
Nợ xấu chỉ trở thành vấn đề buộc Chính phủ và toàn hệ thống chính trị phải bắt tay cùng xử lý khi quy mô và mức độ nghiêm trọng của nó đã vượt quá phạm vi và năng lực giải quyết của từng ngân hàng đơn lẻ, thậm chí một ngành ngân hàng - tức rủi ro mang tính hệ thống đã ở mức độ cao, đe dọa gây khủng hoảng ngân hàng và kéo cả nền kinh tế chìm theo.
Nguy cơ như thế thực sự đã hiện hữu vào tầm cuối năm 2011 khi mà khối u nợ xấu tích tụ từ những năm trước đó, bị bục ra.
Lẽ ra ngay khi đó, hệ thống chính trị đã phải vào cuộc một cách dứt khoát, mạnh mẽ và quyết liệt để ngăn chặn, chí ít làm giảm nhẹ hậu quả mà khối nợ xấu gây ra. Tuy nhiên, ở vào giai đoạn đó, nhận thức toàn hệ thống chưa thống nhất và xu hướng chính trị chưa thích hợp để làm vậy.
Hơn 5 năm tiếp theo đã trôi qua. Khối u nợ xấu đã chuyển sang một dạng biến thể mới. Con bệnh thay vì cần được chữa trị theo một phác đồ thực sự tích cực, đã chỉ được gây tê, gây mê cục bộ bởi cơ chế bán cho Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) và cách các ngân hàng phải thắt lưng buộc bụng, tăng cường trích lập quỹ để bù đắp dần nợ xấu, kéo theo toàn xã hội cùng chịu thiệt hại.
Bằng chứng cho nhận định này là con số nợ xấu và nợ có nguy cơ trở thành nợ xấu cần xử lý tới cuối năm 2016 được Ngân hàng Nhà nước mới công bố vẫn còn rất lớn, khoảng 600 nghìn tỉ đồng, chiếm 10,08% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế.
Nó vẫn không khác quá nhiều so với con số nợ xấu cỡ nửa triệu tỉ đồng, chiếm tới cỡ trên 17% GDP xét tại thời điểm cuối tháng 3/2012 (số vẫn do Ngân hàng Nhà nước sau này công bố).
Tất nhiên, chúng ta hiểu là tổng dư nợ tín dụng ngân hàng cũng như cái bánh GDP danh nghĩa đã to hơn đáng kể sau 5 năm, giúp tỉ lệ nợ xấu loãng bớt.
Như vậy, theo người viết, tính cấp thiết của việc cần phải ban hành một nghị quyết của Quốc hội về xử lý nợ xấu đã rất rõ ràng, phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội và môi trường pháp lý hiện tại.
Và để có một khung pháp lý đầy đủ hơn, đồng bộ hơn, Quốc hội sẽ xem xét việc thông qua tiếp Luật sửa đổi, bổ sung Luật Các tổ chức tín dụng trong kỳ họp tiếp theo. Tất nhiên, việc hoàn thiện khung khổ pháp luật nói chung cho tổng thể hoạt động tiền tệ - ngân hàng vẫn còn là câu chuyện của thì trung dài hạn.
Xin lưu ý là đống tiền đang và gần như “đắp chiếu” kia phần lớn là từ nguồn tiền gửi của dân. Khi quy mô và mức độ nghiêm trọng của nợ xấu đủ lớn, hậu quả của nó thực sự ghê gớm, bắt toàn xã hội cùng gánh chịu, từ người dân, doanh nghiệp, ngân hàng tới Chính phủ (ngân sách nhà nước), không từ bất kỳ ai.
Và cũng cần thiết phải nhấn mạnh rằng ở một nền kinh tế chuyển đổi và mới nổi như chúng ta, nơi vẫn còn sâu đậm dấu ấn cấu trúc kinh tế của thời bao cấp, nơi môi trường thể chế liên tục phải thay đổi, cải tiến để dần hoàn thiện, nơi có mức độ dễ tổn thương cao trước các cú sốc bất lợi từ bên ngoài, nơi văn hóa “tín dụng chính sách” và “tín dụng chỉ định” (phi thị trường) vẫn khá thịnh hành, nơi năng lực chuyên môn lẫn đạo đức nghề nghiệp ngân hàng còn ở đẳng cấp trung bình - thấp, thì thực trạng nợ xấu ngân hàng ngày nay là không quá khó hiểu.
Tóm lại, cần nhấn mạnh một nghịch lý hay một vấn nạn, thậm chí có thể gọi là quốc nạn đang hiện hữu trong đời sống kinh tế - xã hội nước ta, đó là: nhiều ngân hàng đang là “con tin” của các con nợ lớn.
Tương tự như vậy, nền kinh tế mới nổi phụ thuộc nặng nề vào nguồn vốn tín dụng như Việt Nam, bất đắc dĩ cũng đang trở thành “con tin” của ngành ngân hàng.
Song song với xử lý nợ xấu, việc nghiêm trị các cá nhân, tập thể có hành vi cố ý phạm luật để gây ra hậu quả nợ xấu nghiêm trọng là một việc khác, vẫn phải được tiến hành theo luật pháp hiện hành.
Trước rủi ro gián đoạn nguồn cung, các tổ chức quốc tế đã nâng dự báo giá Brent bình quân năm 2026 lên khoảng 85–91 USD/thùng, song vẫn chưa xem mức trên 100 USD/thùng là kịch bản cơ sở. Mặt bằng giá mới chưa đẩy Việt Nam vào một cú sốc năng lượng cực đoan, nhưng rủi ro lạm phát và tỷ giá tăng sẽ khiến Ngân hàng Nhà nước khó xoay xở để đồng thời ổn định các cân đối vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng...
Hôm nay, các ngân hàng thương mại tăng tỷ giá mua - bán USD khoảng 20 - 25 đồng so với cuối tuần trước, song vẫn thấp hơn đầu năm, lần lượt 1,26% và 0,94%. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm đã tăng 1,92%. Tín hiệu trái chiều giữa tỷ giá thị trường và tỷ giá điều hành đáng được doanh nghiệp lưu ý khi xây dựng kế hoạch ngoại tệ và phòng ngừa rủi ro tỷ giá trong những tháng cuối năm...
Từ ngày 1/11/2026, báo cáo tài chính năm trong thông tin tín dụng của doanh nghiệp vay vốn phải là báo cáo đã nộp cho cơ quan thuế hoặc đã được kiểm toán, theo quy định mới tại Thông tư 46/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước…
Tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng đã giảm 4 tháng liên tiếp và đang lùi về sát đáy một năm. Dòng vốn, nguồn cung ngoại tệ và mặt bằng lãi suất VND đang tạo lực đỡ cho đồng nội tệ. Tuy nhiên, dư địa giảm sâu của USD/VND có thể không còn nhiều khi nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu vẫn lớn, trong khi tín hiệu điều hành cho thấy tỷ giá có thể tăng nhẹ trong những tháng cuối năm...
Các thành viên trên thị trường liên ngân hàng vẫn đặt kỳ vọng cao vào tăng trưởng kinh tế và khả năng điều hành của Ngân hàng Nhà nước, nhưng thận trọng hơn với triển vọng chứng khoán và bất động sản. Sự phân hóa này xuất hiện ngay cả khi thanh khoản ngắn hạn của hệ thống ngân hàng đã bớt căng thẳng, cho thấy dòng tiền dồi dào hơn chưa đồng nghĩa với điều kiện vốn thuận lợi hơn, nhất là khi chi phí huy động vẫn cao và những bất định bên ngoài còn lớn..
Nhân Ngày Quốc tế Bảo vệ tầng ô-dôn năm 2026 và kỷ niệm 10 năm Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thông qua, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức Chương trình tọa đàm “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn”. Tọa đàm được phát trực tuyến trên trên VnEconomy.vn và FanPage VnEconomy vào 9h ngày 14/9/2026...
Năm 2025, quy mô thị trường du lịch wellness toàn cầu được định giá 990,4 tỷ USD. Năm 2026, dự kiến 1.085,6 tỷ USD. Năm 2035 dự kiến 2.400 tỷ USD. Thị trường châu Á - Thái Bình Dương có tốc độ tăng trưởng kép hàng năm cao nhất... trong giai đoạn 2026 - 2035.