Tại Hội thảo khoa học quốc gia “Đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” ngày 26/5, TS. Sacha Samuel Jacques Dray, Chuyên gia Kinh tế của Ngân hàng Thế giới (World Bank) tại Việt Nam, nhấn mạnh Nghị quyết 57 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia mang ý nghĩa như một bước ngoặt quan trọng đối với Việt Nam, với các mục tiêu, cam kết mạnh mẽ của Nhà nước dành cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
“Nhìn vào Việt Nam hôm nay, chúng tôi có cơ sở để tin tưởng vào khả năng phát triển và ứng dụng công nghệ của quốc gia này”, TS. Sacha Samuel Jacques Dray khẳng định.
CHƯA TỚI 1/5 DOANH NGHIỆP VIỆT THAM GIA CHUỖI CUNG ỨNG FDI TẠI THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA
Ông cho biết cách đây khoảng 5 năm, rất ít người có thể hình dung AI lại đóng vai trò lớn như hiện nay trong đời sống và kinh tế toàn cầu, nhưng Việt Nam đã xây dựng chiến lược phát triển AI từ giai đoạn 2017-2018.
Lịch sử phát triển công nghệ luôn là “những điều chưa từng được biết tới”. Vì vậy, việc lựa chọn đúng công nghệ chiến lược không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà còn là cuộc hoạch định chính sách mang tính dài hạn.
Tiến sĩ nhận định Việt Nam đã trở thành trung tâm sản xuất công nghệ năng động của thế giới. Tuy nhiên, sự tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi giá trị toàn cầu vẫn còn hạn chế.
Theo đó, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hiện đóng góp khoảng 70% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, trong đó Samsung hiện tạo ra doanh thu tới khoảng 13% GDP của Việt Nam. Dù vậy, giá trị gia tăng trên mỗi giờ lao động của Việt Nam vẫn còn thấp, chỉ khoảng 7 USD/giờ, so với khoảng 14 USD tại Trung Quốc và 28 USD tại Malaysia.
Theo ông Dray, nghịch lý ở chỗ Việt Nam là trung tâm sản xuất lớn nhưng mức độ làm chủ công nghệ và tham gia trong chuỗi cung ứng của doanh nghiệp nội địa còn hạn chế. Hiện chưa đến 20% doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng cho các tập đoàn toàn cầu đang hoạt động tại Việt Nam.
Trong ngành điện tử, các tập đoàn quốc tế vẫn phải nhập khẩu tới khoảng 90% linh kiện và phụ kiện phục vụ sản xuất. Điều đó cho thấy đóng góp của hệ sinh thái doanh nghiệp trong nước còn khá khiêm tốn.
KHUYẾN NGHỊ TỪ ĐẠI DIỆN WORLD BANK
Đưa ra khuyến nghị nhằm góp phần hiện thực hóa tầm nhìn và khát vọng tại Nghị quyết 57, ông Dray cho biết Việt Nam hiện đã áp dụng cơ chế cho phép khấu trừ tới 200% chi phí R&D cho doanh nghiệp tư nhân, song mức độ tận dụng chính sách này vẫn còn thấp, đặc biệt với các doanh nghiệp nhỏ và vừa do còn vướng nhiều rào cản về thủ tục hành chính.
Theo ông, việc đơn giản hóa quy trình và thủ tục là điều cần thiết để dòng vốn đầu tư tư nhân cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có thể được khơi thông mạnh mẽ hơn.
Về đầu tư công, kinh nghiệm quốc tế cho thấy đầu tư dàn trải hiếm khi mang lại hiệu quả cao. Nguồn lực chỉ có thể phát huy tối đa tác dụng khi được tập trung vào những doanh nghiệp có năng lực hấp thụ tốt, khả năng cạnh tranh cao và tiềm năng tạo ra nhiều việc làm chất lượng.
Theo ông, hiện Việt Nam có hai nhóm doanh nghiệp đặc biệt phù hợp để đón nhận và hấp thụ dòng vốn này.
Nhóm đầu tiên là các doanh nghiệp đã tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, bao gồm doanh nghiệp xuất khẩu hoặc các nhà cung ứng cho những tập đoàn sản xuất quốc tế. Đây là những doanh nghiệp đã quen với áp lực cạnh tranh, vận hành theo tiêu chuẩn quốc tế và sở hữu mạng lưới khách hàng ổn định. Vì vậy, khi được hỗ trợ về công nghệ và đổi mới sáng tạo, họ có thể nhanh chóng nâng cấp năng lực sản xuất.
Ông dẫn chứng chương trình hợp tác phát triển nhà cung ứng giữa Bộ Công Thương và Samsung từ năm 2015. Thông qua chương trình này, các kỹ sư và chuyên gia đã hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực quản trị, cải thiện tiêu chuẩn sản xuất và đáp ứng yêu cầu quốc tế. Nếu năm 2014, Samsung chỉ có khoảng 25 nhà cung ứng tại Việt Nam thì hiện nay con số này đã vượt 300. "Đây là kết quả rất rõ ràng", ông Dray nói.
Nhóm thứ hai là doanh nghiệp vừa và nhỏ — khu vực được xem là “xương sống” của nền kinh tế Việt Nam và cũng là khu vực có dư địa tăng trưởng lớn nhất.
Theo nghiên cứu của World Bank, hiện mới chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam tận dụng hiệu quả AI và các công nghệ số tiên tiến. Khoảng cách không chỉ nằm ở nhận thức công nghệ, mà còn ở năng lực tiếp cận, khả năng hấp thụ, mức độ sẵn sàng và tính kỷ luật trong quá trình triển khai.
Chuyên gia cho rằng đây là khu vực doanh nghiệp Việt Nam cần đầu tư mạnh trong 5 năm tới thông qua các chương trình chuyển đổi số và hỗ trợ đổi mới sáng tạo.
"Trong quá trình này sẽ xuất hiện những doanh nghiệp tiên phong ứng dụng công nghệ thành công. Từ các mô hình đi đầu đó, Việt Nam có thể tiếp tục nhân rộng kinh nghiệm và xây dựng các chương trình hỗ trợ quy mô lớn hơn", ông Dray nói.