Việt Nam cần khuếch tán đổi mới sáng tạo ra toàn bộ nền kinh tế
Ngô Huyền
26/05/2026, 11:31
Các tập đoàn lớn sẽ đóng vai trò tiên phong, đưa công nghệ mới, trí tuệ nhân tạo và các mô hình kinh doanh mới vào thị trường. Nhưng để những công nghệ này thực sự tạo tác động rộng lớn, các doanh nghiệp quy mô nhỏ và trung bình phải có khả năng hấp thụ, ứng dụng và khuếch tán chúng trong toàn nền kinh tế...
Bà Francesca Nardini, Phó Trưởng Đại diện Thường trú Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam - Ảnh: Việt Dũng.
Bà Francesca Nardini, Phó Trưởng Đại diện Thường trú Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), nhận định trong bài tham luận liên quan đến khuyến nghị các động lực tăng trưởng mới cho Việt Nam tại Hội thảo khoa học quốc gia “Đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”, diễn ra tại Hải Phòng, ngày 26/5.
Hội thảo do 4 cơ quan đồng tổ chức gồm: Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương và Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Hội đồng Lý luận Trung ương; Thành ủy Hải Phòng; cùng sự phối hợp chuyên môn của Tạp chí Cộng sản; Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật và Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, Tạp chí Kinh tế Việt Nam - VnEconomy - Vietnam Economic Times.
GIỚI HẠN MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG HIỆN NAY
Bà Nardini cho rằng trong giai đoạn phát triển tiếp theo, bài toán của Việt Nam không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng cao, mà còn phải bảo đảm tăng trưởng có tính bao trùm và bền vững. Điều này gắn chặt với khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo – những yếu tố có thể nâng cao năng suất và tạo ra năng lực cạnh tranh mới cho toàn bộ nền kinh tế.
Bà đánh giá trong hơn 3 thập kỷ qua, Việt Nam đã đạt được thành tựu phát triển “chưa từng có tiền lệ”, khi vừa duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, vừa đưa hàng triệu người thoát nghèo trong khoảng thời gian tương đối ngắn. Đây là thành công mà không nhiều quốc gia trên thế giới có thể đạt được.
Cốt lõi của quá trình chuyển đổi là nâng cao năng suất, tạo ra nhiều giá trị hơn từ cùng một nguồn lực. Và để làm được điều đó, Việt Nam cần chuyển dịch mô hình tăng trưởng theo hướng lấy khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực trung tâm.
Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng hiện nay cũng đang dần chạm tới những giới hạn về cơ cấu. Theo bà Francesca Nardini, mô hình phát triển dựa trên xuất khẩu, cùng lợi thế lao động giá rẻ,... đã phát huy hiệu quả trong nhiều năm qua, nhưng sẽ khó tiếp tục tạo ra mức tăng trưởng hai con số trong tương lai.
“Điều đó đòi hỏi Việt Nam phải bước vào một giai đoạn chuyển đổi mới, đưa nền kinh tế lên một cấp độ phát triển cao hơn”, bà nói.
Theo đại diện UNDP, cốt lõi của quá trình chuyển đổi là nâng cao năng suất, tạo ra nhiều giá trị hơn từ cùng một nguồn lực. Và để làm được điều đó, Việt Nam cần chuyển dịch mô hình tăng trưởng theo hướng lấy khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực trung tâm.
Bà cho rằng Việt Nam đã sớm nhận diện rõ định hướng này và đang thể hiện một tầm nhìn dài hạn, hướng tới tương lai. Đây là nền tảng quan trọng để giải quyết các thách thức phát triển trong giai đoạn tới.
Đồng thời, bà cũng đánh giá cao vai trò của các doanh nghiệp tiên phong trong thúc đẩy công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam. Theo bà, những tập đoàn như FPT, Viettel hay Vingroup đang góp phần đưa AI, các ý tưởng công nghệ mới và các mô hình đổi mới sáng tạo vào thị trường, qua đó tạo thêm động lực cho quá trình phát triển của nền kinh tế Việt Nam.
VIỆT NAM ĐÃ ĐI NHỮNG BƯỚC CHIẾN LƯỢC CHO NỀN KINH TẾ SỐ
Bà Nardini cho rằng Việt Nam đang chứng kiến sự nổi lên của nhiều động lực tăng trưởng mới, đặc biệt là hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và startup tại các trung tâm kinh tế như Thành phố Hồ Chí Minh. Theo bà, đây là những nhân tố có thể tạo ra làn sóng phát triển mới cho nền kinh tế trong giai đoạn tới.
Việt Nam đang thiếu hụt các doanh nghiệp quy mô trung bình có khả năng trở thành lực lượng dẫn dắt tăng trưởng, bên cạnh đó, cần kết nối khu vực đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước, nhằm giúp các doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và tiếp cận công nghệ.
Đại diện UNDP đánh giá Việt Nam đã có những bước đầu tư mang tính chiến lược nhằm xây dựng hệ thống quản trị phù hợp với nền kinh tế số và thúc đẩy tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo. Trong đó, việc xây dựng các khung pháp lý liên quan đến trí tuệ nhân tạo, bảo vệ dữ liệu hay ban hành Nghị quyết 57 về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo được xem là những nỗ lực quan trọng nhằm định hình một lộ trình phát triển rõ ràng hơn cho quốc gia.
Theo bà, các chính sách này đang góp phần tạo nền tảng cho quá trình chuyển đổi số mạnh mẽ, đồng thời tăng cường năng lực cho doanh nghiệp và thúc đẩy việc hình thành các cơ chế, quy định mới phù hợp với nền kinh tế công nghệ.
Tuy vậy, bà cũng lưu ý Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức mang tính cơ cấu cần sớm giải quyết để duy trì đà tăng trưởng dài hạn.
Một trong những vấn đề được bà nhắc tới là hiện tượng “missing middle” – tức sự thiếu hụt các doanh nghiệp quy mô trung bình có khả năng trở thành lực lượng dẫn dắt tăng trưởng. Bên cạnh đó là bài toán kết nối giữa khu vực đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước, nhằm giúp các doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và tiếp cận công nghệ.
Hội thảo khoa học quốc gia “Đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”, diễn ra tại Hải Phòng, ngày 26/5 - Ảnh: Việt Dũng.
Theo bà Francesca Nardini, hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) của Việt Nam vẫn còn khoảng cách đáng kể với quá trình thương mại hóa sản phẩm. Hệ sinh thái sở hữu trí tuệ, sự tham gia của khu vực tư nhân trong nghiên cứu, cũng như mối liên kết giữa doanh nghiệp, trường đại học và Nhà nước vẫn cần được củng cố mạnh mẽ hơn để hình thành một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hiệu quả.
Ngoài ra, bà cũng nhấn mạnh nhu cầu hiện đại hóa hạ tầng năng lượng, đặc biệt là lưới điện, trong bối cảnh Việt Nam ngày càng phụ thuộc vào các ngành công nghệ và sản xuất có cường độ tiêu thụ điện năng cao.
Theo bà, Việt Nam đã thể hiện nhận thức rõ ràng về vai trò của an ninh năng lượng thông qua nhiều định hướng và chính sách mới, trong đó có Nghị quyết 70. Đây được xem là yếu tố quan trọng để duy trì ổn định kinh tế vĩ mô cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn phát triển tiếp theo.
DOANH NGHIỆP SME CẦN NHẬN ĐƯỢC HỖ TRỢ NHIỀU HƠN ĐỂ TĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
Bà Francesca Nardini cho rằng nền tảng cho giai đoạn phát triển tiếp theo của Việt Nam nằm ở việc nâng cao vai trò của doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là khối doanh nghiệp vừa, nhỏ (SME) và siêu nhỏ – lực lượng hiện chiếm tới khoảng 96–97% tổng số doanh nghiệp của nền kinh tế.
Bà cũng trích dẫn nghiên cứu từ nhóm trường đại học Harvard cho thấy ở các quốc gia có thu nhập cao, nhóm doanh nghiệp quy mô trung bình thường đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc kinh tế. Trong khi đó, Việt Nam vẫn là nền kinh tế đang phát triển, vì vậy việc củng cố năng lực cho khu vực doanh nghiệp nội địa càng trở nên quan trọng hơn trong quá trình chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.
Việt Nam đã hội nhập sâu vào chuỗi giá trị quốc tế, nhưng mức độ ứng dụng công nghệ giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa vẫn còn khoảng cách đáng kể.
“Các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ cần được hỗ trợ mạnh mẽ hơn trong ứng dụng công nghệ và kết nối vào chuỗi cung ứng”, bà nói. Theo đại diện UNDP, đây chính là lực lượng có thể chuyển hóa các ý tưởng đổi mới sáng tạo thành hoạt động kinh doanh cụ thể, qua đó nâng cao năng suất và lan tỏa năng lực công nghệ ra toàn bộ nền kinh tế.
Các tập đoàn lớn sẽ đóng vai trò tiên phong, đưa công nghệ mới, trí tuệ nhân tạo và các mô hình kinh doanh mới vào thị trường. Nhưng để những công nghệ này thực sự tạo tác động rộng lớn, các doanh nghiệp quy mô nhỏ và trung bình phải có khả năng hấp thụ, ứng dụng và khuếch tán chúng trong toàn nền kinh tế.
Bà Francesca Nardini cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài và các chuỗi cung ứng toàn cầu. Theo bà, Việt Nam đã hội nhập sâu vào chuỗi giá trị quốc tế, nhưng mức độ ứng dụng công nghệ giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa vẫn còn khoảng cách đáng kể.
Dẫn kết quả khảo sát doanh nghiệp năm 2025 của Ngân hàng Thế giới, bà cho biết phần lớn doanh nghiệp trong nước vẫn gặp hạn chế về nguồn lực, khả năng đầu tư máy móc và năng lực công nghệ.
Hội thảo do 4 cơ quan đồng tổ chức gồm: Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương và Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Hội đồng Lý luận Trung ương; Thành ủy Hải Phòng; cùng sự phối hợp chuyên môn của Tạp chí Cộng sản; Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật và Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, Tạp chí Kinh tế Việt Nam.
Một vấn đề khác được đại diện UNDP lưu ý là khoảng trống trong hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D). Dù Việt Nam đã thể hiện tầm nhìn mạnh mẽ về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, mức đầu tư cho R&D hiện vẫn chưa đạt 1% GDP, thấp hơn nhiều nền kinh tế trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc và Hàn Quốc.
Theo bà, mục tiêu nâng tỷ lệ đầu tư R&D lên 2% GDP là định hướng cần thiết, song quan trọng hơn là bảo đảm các khoản đầu tư mang tính chiến lược, tập trung vào những ưu tiên quốc gia thay vì dàn trải.
“Thách thức không chỉ nằm ở việc phổ cập đổi mới sáng tạo, mà còn là xây dựng được một hệ sinh thái có khả năng mở rộng và khuếch tán đổi mới sáng tạo trên toàn nền kinh tế”, bà nhấn mạnh.
Trong hệ sinh thái đó, Chính phủ không chỉ đóng vai trò quản lý mà còn phải là lực lượng dẫn dắt chiến lược và thúc đẩy quá trình chuyển đổi. Đại diện UNDP đưa ra ba nhóm khuyến nghị chính cho Việt Nam.
Thứ nhất, cần nâng cao năng lực cho doanh nghiệp trong nước và tăng cường kết nối với khu vực FDI, giúp doanh nghiệp Việt đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật, năng suất và chất lượng để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị có giá trị gia tăng cao.
Thứ hai, Việt Nam cần thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu và thương mại hóa, đòi hỏi sự liên kết xuyên suốt giữa nghiên cứu, tài chính, thương mại hóa và mở rộng thị trường. Điều này cũng cần nỗ lực củng cố hệ thống sở hữu trí tuệ, tăng cường vai trò của trường đại học và phát triển các mô hình thương mại hóa công nghệ hiệu quả hơn.
Thứ ba, bà nhấn mạnh vai trò của các yếu tố nền tảng như hạ tầng năng lượng. Theo bà, những ngành công nghệ cao như bán dẫn hay dược phẩm đòi hỏi nguồn điện ổn định và đáng tin cậy. Chỉ một sự gián đoạn điện năng cũng có thể gây thiệt hại lớn cho dây chuyền sản xuất.
“Bảo đảm nguồn năng lượng ổn định, có khả năng chi trả và hiện đại hóa lưới điện sẽ là yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia”, bà nói.
Theo đại diện UNDP, mục tiêu cuối cùng của phát triển không chỉ là tăng trưởng kinh tế, mà là nâng cao phúc lợi, sự an toàn và chất lượng sống của người dân.
“Đó phải là ‘ngôi sao Bắc Đẩu’ định hướng cho toàn bộ tiến trình phát triển”, bà Francesca Nardini nhấn mạnh, đồng thời khẳng định UNDP mong muốn tiếp tục đồng hành cùng Việt Nam trong quá trình này.
Kết hợp hài hòa giữa kiên định và đổi mới, phát triển để ổn định, ổn định để phát triển bền vững
11:40, 26/05/2026
Hải Phòng: Phấn đấu nâng tỷ trọng đóng góp của kinh tế số lên trên 35% GRDP vào năm 2030
10:32, 26/05/2026
Phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Huawei đề xuất nguyên lý phát triển chip mới để Trung Quốc vượt "vòng vây công nghệ"
Huawei đặt mục tiêu đến năm 2031 có thể thiết kế các dòng chip cao cấp đạt mật độ bóng bán dẫn tương đương tiến trình 1,4 nanomet - được xem là sát giới hạn công nghệ bán dẫn vào cuối thập kỷ này...
Ban hành khung nguyên tắc toàn diện về liêm chính khoa học
Lần đầu tiên, Việt Nam ban hành bộ nguyên tắc toàn diện về liêm chính khoa học, đặt ra chuẩn mực về trung thực học thuật, minh bạch dữ liệu và trách nhiệm giải trình trong hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ...
AI tạo “cơn khát” nhân lực an ninh mạng
Nhu cầu nhân lực an ninh mạng lớn đến mức nhiều công ty tuyển dụng cho biết họ phải từ chối khách hàng vì thị trường không có đủ ứng viên phù hợp...
TP. Hồ Chí Minh đẩy mạnh phát triển ngành vi mạch bán dẫn tại Khu Công nghệ cao
Đây là một phần trong Kế hoạch triển khai “Chương trình phát triển công nghiệp vi mạch TP. Hồ Chí Minh tại Khu Công nghệ cao giai đoạn 2025 - 2030” năm 2026 mà UBND Thành phố vừa ban hành, nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp vi mạch bán dẫn, đồng thời tạo ra các sản phẩm và kết quả nghiên cứu có tính ứng dụng cao…
Việt Nam triển khai chương trình hỗ trợ đầu tư nghiên cứu khoa học tới 10 năm
Lần đầu tiên, Việt Nam có chương trình đầu tư nghiên cứu cơ bản theo chu kỳ 5 -10 năm, thay cho mô hình tài trợ ngắn hạn, với mục tiêu đến năm 2035 hình thành 50 nhóm nghiên cứu mạnh, phát triển các hướng công nghệ lõi trong AI, bán dẫn, công nghệ lượng tử, vật liệu tiên tiến…
Với phương châm Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định tư duy, tầm nhìn, những quyết sách chiến lược để chúng ta vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên mới, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 khi Đảng ta tròn 100 năm thành lập (1930 - 2030); hiện thực hoá tầm nhìn phát triển đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945 - 2045).
Tổng số đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI trong cả nước là 182. Số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị bầu cử và số lượng đại biểu Quốc hội được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử của các tỉnh, thành phố được ấn định...
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên VnEconomy.
Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là generative AI, phát triển mạnh mẽ, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tiên phong ứng dụng công nghê để mang đến trải nghiệm thông tin đột phá với chatbot AI Askonomy...
Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?
Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán),
có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu).
Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính: