Sáng 19/3, tại Phiên họp thứ 55, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về Dự thảo Nghị quyết về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế.
Dự thảo do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo, đề xuất quy định về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù bảo đảm nguồn lực cho phòng ngừa, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế; tổ chức và hoạt động của Trung tâm phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế.
Các thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội cơ bản đồng tình với sự cần thiết ban hành Nghị quyết, đặc biệt trong bối cảnh các tranh chấp đầu tư quốc tế phát sinh mới tiếp tục gia tăng với giá trị tranh chấp ngày càng lớn, tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại lớn về kinh tế, uy tín và môi trường đầu tư.
Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho rằng để bảo vệ quyền lợi quốc gia trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, Việt Nam cần một hành lang pháp lý đủ mạnh, không chỉ dừng lại ở các biện pháp hành chính mà phải tiếp cận theo tiêu chuẩn quốc tế.
Đánh giá cao sự khẩn trương của Bộ Tư pháp trong việc xây dựng dự thảo, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Hoàng Thanh Tùng khẳng định đây là vấn đề vừa khó, vừa phức tạp, đan xen giữa thực tiễn đầu tư, kinh tế và pháp luật quốc tế.
Trong bối cảnh Việt Nam tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) và bảo hộ đầu tư, các tranh chấp phát sinh là điều khó tránh khỏi. Do đó, việc ban hành một Nghị quyết với các cơ chế "đặc biệt, đặc thù" để tạo đột phá trong năng lực phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro pháp lý là yêu cầu cấp thiết.
Theo Chủ nhiệm Hoàng Thanh Tùng, cần thay đổi tư duy từ giải quyết sang chủ động phòng ngừa. Dẫn chiếu khuyến nghị mới nhất của Ủy ban Luật Thương mại Quốc tế Liên Hợp Quốc, Chủ nhiệm Hoàng Thanh Tùng chỉ rõ hai lỗ hổng cần quan tâm. Đó là cơ chế đánh giá rủi ro bắt buộc và thiết lập đầu mối xử lý khiếu nại tập trung.
Theo đó, cần hình thành quy trình đánh giá tác động và rủi ro tranh chấp đối với tất cả các hợp đồng, thỏa thuận đầu tư trước khi ký kết. Đây là bộ lọc quan trọng để ngăn chặn hệ lụy pháp lý từ sớm.
Bên cạnh đó, thay vì cơ chế phân tán, "đúng thẩm quyền thì làm, không đúng thì chuyển" như hiện nay, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cho rằng cần một cơ quan đầu mối chuyên nghiệp để tiếp nhận và giải quyết các vướng mắc ban đầu của nhà đầu tư thông qua hòa giải, tránh để mâu thuẫn leo thang thành tranh chấp quốc tế.
Đồng tình với quan điểm này, Phó Chủ tịch Quốc hội, Thượng tướng Trần Quang Phương đề xuất 4 trụ cột cho khung pháp lý phòng ngừa.
Thứ nhất, minh bạch hóa Luật Đầu tư, đặc biệt là các quy định liên quan đến đầu tư nước ngoài.
Thứ hai, hạn chế xung đột pháp luật, giảm thiểu tối đa sự chồng chéo giữa luật trong nước và luật nước ngoài.
Thứ ba, đối xử công bằng, luật pháp không được mơ hồ để tránh bị nhà đầu tư lợi dụng khởi kiện.
Thứ tư, cơ chế cảnh báo sớm, thành lập đầu mối quốc gia để theo dõi và đánh giá rủi ro từ các dự án FDI ngay từ giai đoạn đầu.
Việc thành lập một đơn vị chuyên trách (Trung tâm) trực thuộc Bộ Tư pháp nhận được sự ủng hộ cao, nhưng mô hình hoạt động và chế độ chính sách là vấn đề cần được quan tâm.
Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Hoàng Thanh Tùng lưu ý cần làm rõ tư cách pháp nhân của trung tâm này. Nếu xác định đây là đơn vị sự nghiệp công lập, cần tính toán kỹ khả năng đại diện quốc gia tranh tụng tại các cơ quan tài phán quốc tế để tránh bị bác tư cách đại diện ngay từ đầu.
Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cho rằng "khí tài" pháp lý mạnh phải đi đôi với con người giỏi.
“Để xây dựng được đội ngũ "luật sư công" đủ trình độ đối đầu với các tổ chức luật quốc tế, Nhà nước cần một cơ chế đãi ngộ đặc thù, vượt trội. Nếu không có chính sách đủ mạnh, Việt Nam sẽ khó thu hút và giữ chân những chuyên gia có năng lực trong lĩnh vực đặc thù và khắc nghiệt này”, Chủ nhiệm Hoàng Thanh Tùng nhấn mạnh.
Đảng ủy Chính phủ thành lập Bộ phận nghiên cứu chuyên đề của Thủ tướng Chính phủ, thực hiện nhiệm vụ tham mưu, tư vấn chính sách, phản biện và nghiên cứu chuyên đề trong nhiệm kỳ Đại hội XIV của Đảng.
Đối ngoại và hội nhập quốc tế cần được điều phối thống nhất, phục vụ thiết thực hơn cho phát triển đất nước, tự chủ chiến lược, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và vị thế Việt Nam trong giai đoạn mới.
Các tập đoàn và quỹ đầu tư quốc tế đánh giá Nghị quyết số 10 đã phát đi thông điệp rõ ràng về chuyển đổi tư duy thu hút đầu tư, từ coi trọng quy mô sang chất lượng dòng vốn, cải cách thể chế, phát triển thị trường vốn và nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước sẽ quyết định sức hấp dẫn của Việt Nam trong giai đoạn mới…
Tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết số 10-NQ/TW là nâng chất lượng dòng vốn thông qua đổi mới sáng tạo, công nghệ và hiệu quả lan tỏa. Những định hướng phát triển được TP.HCM, Hà Nội và Đà Nẵng chia sẻ tại Hội nghị toàn quốc triển khai Nghị quyết đã phác họa rõ nét ba trụ cột của hệ sinh thái mới để cạnh tranh trong cuộc đua thu hút FDI toàn cầu…
Sáng 30/6, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomytrân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại hội nghị.
Ngày 22/6/2026, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội đã đồng loạt khởi công 5 tuyến đường sắt đô thị (metro) với tổng chiều dài khoảng 303,5 km và tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 1.315.256 tỷ đồng, đặt mục tiêu cơ bản hoàn thành vào năm 2030.
Sàn giao dịch carbon trong nước chính thức được khai trương sáng ngày 29/6/2026 tại trụ sở Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội. Sự kiện đánh dấu bước tiến quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển thị trường carbon tại Việt Nam.