Sáng ngày 16/9, Trường Đại học Kinh tế (UEB) – Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp cùng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, đã tổ chức Hội thảo Kinh tế 2025 với chủ đề “Động lực cho tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong kỷ nguyên mới”.
Hội thảo là một trong những hoạt động học thuật trọng điểm nằm trong khuôn khổ Hội thảo Quốc tế về Nghiên cứu Việt Nam lần thứ 7 (ICVNS 2025), diễn ra trong bối cảnh cả nước long trọng kỷ niệm 80 năm Quốc khánh nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời chuẩn bị tổng kết 40 năm công cuộc Đổi mới và hoạch định chiến lược phát triển cho Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV.
Phát biểu tại hội nghị , ông Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, nhấn mạnh Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển có ý nghĩa lịch sử. Đảng và Nhà nước cũng đã đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn 2026 – 2030, coi đây không chỉ là khát vọng chiến lược, mà còn là thước đo bản lĩnh, tầm nhìn và năng lực điều hành kinh tế vĩ mô của đất nước.
Tuy nhiên, theo ông Hiển, để hiện thực hóa những mục tiêu lớn lao, Việt Nam không thể tiếp tục dựa vào các động lực tăng trưởng truyền thống như khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ,.... Thay vào đó, đất nước cần nhanh chóng kiến tạo những động lực hiện đại, bền vững, phù hợp với kỷ nguyên số và kỷ nguyên xanh, đồng thời tận dụng tốt các cơ hội từ hội nhập kinh tế quốc tế để bứt phá mạnh mẽ.
“Muốn đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, chúng ta phải thúc đẩy các động lực như đổi mới sáng tạo, công nghiệp hóa – hiện đại hóa, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển khoa học công nghệ,…”, ông Hiển nhấn mạnh.
Tương tự, TS. Phạm Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, cho rằng bối cảnh trong nước và quốc tế hiện nay vừa mở ra nhiều cơ hội, vừa đặt ra không ít thách thức cho Việt Nam.
Trên thế giới, quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng diễn ra mạnh mẽ, già hóa dân số, biến đổi khí hậu, cùng với sự trỗi dậy của công nghệ số và chuyển đổi xanh đang định hình lại trật tự kinh tế toàn cầu.
Đặc biệt, ở trong nước, các mô hình tăng trưởng truyền thống đã bộc lộ nhiều hạn chế như năng suất lao động tăng chậm, dư địa tài khóa - tiền tệ thu hẹp; chất lượng thể chế còn yếu, quá trình chuyển đổi số, chuyển đổi xanh còn nhiều bất cập,...
Và để hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số, Việt Nam cần đặt trọng tâm vào một số động lực chủ chốt như thúc đẩy đầu tư tư nhân chất lượng cao; chuyển dịch lao động sang các khu vực có năng suất cao hơn; khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA…; đồng thời thu hút dòng vốn đầu tư công nghệ cao gắn với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển năng lượng bền vững.
“Mục tiêu tăng trưởng cao không phải nằm ngoài tầm với. Điều quan trọng là Việt Nam phải thay đổi tư duy, chiến lược và hành động, ban hành những chính sách đột phá và tạo được sự phối hợp hiệu quả giữa nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng quốc tế”, ông Tuấn nhấn mạnh.
Đồng quan điểm, PGS.TS. Lê Trung Thành, Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, khẳng định Việt Nam cần khẩn trương kiến tạo các động lực phát triển hiện đại, bền vững, dựa trên thể chế minh bạch, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển xanh, đồng thời tận dụng tối đa cơ hội từ hội nhập quốc tế.
“Không một quốc gia nào có thể phát triển bền vững chỉ bằng mô hình ‘vay mượn’. Mỗi nền kinh tế cần tự kiến tạo hệ động lực riêng, dựa trên nội lực của mình, nhưng phải được nuôi dưỡng bằng tri thức toàn cầu”, ông Thành nhấn mạnh.
Phân tích sâu hơn về những thách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt, TS. Nguyễn Quỳnh Trang, Khoa Kinh tế Chính trị, Trường Đại học Kinh tế (UEB), Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng một trong những vấn đề lớn nhất mà Việt Nam đang gặp phải chính là chất lượng nguồn nhân lực.
Cụ thể, dù tỷ lệ lao động qua đào tạo của Việt Nam đã tăng gần gấp đôi, từ khoảng 14% năm 2010 lên trên 28% vào năm 2024, song mức đóng góp của lực lượng lao động này vào tăng trưởng GDP vẫn còn khiêm tốn và thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực.
Bên cạnh đó, tỷ lệ chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) cũng chỉ ở mức 0,4–0,5% GDP, thấp hơn đáng kể so với nhiều quốc gia trong khu vực.
Không những vậy, các hạn chế từ phía cung vẫn còn hiện hữu như năng lực sản xuất còn yếu, máy móc thiết bị lạc hậu, hiệu quả sử dụng vốn thấp; khu vực tư nhân chưa hình thành được những doanh nghiệp đầu đàn có khả năng cạnh tranh toàn cầu.
Đồng thời, cơ sở hạ tầng tại Việt Nam tuy đã có bước cải thiện nhưng vẫn thiếu tính đồng bộ, chi phí logistics cao. Lực lượng lao động chưa đáp ứng yêu cầu về kỹ năng số và công nghệ, trong khi năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) còn thấp do bị cản trở bởi môi trường thể chế, hiệu quả quản lý đầu tư công chưa cao, môi trường kinh doanh thiếu minh bạch, năng lực quản trị doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, năng lực công nghệ thấp và quá trình đổi mới sáng tạo diễn ra chậm.
Để giải quyết những điểm nghẽn này, bà Trang đề xuất một số giải pháp mà Việt Nam cần áp dụng để đảm bảo tăng trưởng trong thời gian tới bao gồm:
Một là, phát triển khu vực tư nhân thông qua việc gỡ bỏ rào cản thể chế, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, đồng thời hình thành các doanh nghiệp đầu đàn có khả năng cạnh tranh quốc tế.
Hai là, hiện đại hóa sản xuất bằng cách đổi mới máy móc thiết bị, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao và thúc đẩy chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sản xuất.
Ba là, đầu tư vào hạ tầng chiến lược, đặc biệt là giao thông liên vùng, logistics và năng lượng sạch để giảm chi phí và tăng cường tính bền vững.
Bốn là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua đẩy mạnh đào tạo nghề, trang bị kỹ năng số, trí tuệ nhân tạo (AI) và năng lực quản trị hiện đại cho người lao động.
Cuối cùng, tăng cường đóng góp của TFP thông qua cải cách thể chế, nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư công, thúc đẩy nghiên cứu – phát triển và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Bổ sung thêm về các giải pháp, ông Thành cũng gợi ý Việt Nam cần xây dựng một hệ thống thể chế hiệu quả và năng động, nơi chính sách không chỉ dừng ở việc ban hành mà còn được thực thi nghiêm túc, giám sát chặt chẽ và liên tục cải tiến.
Song song với đó, cần phát triển nguồn nhân lực có khả năng học tập suốt đời và làm chủ tri thức mới. Việt Nam cũng cần thúc đẩy đổi mới sáng tạo gắn liền với công nghệ số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo như những trụ cột không thể thiếu cho năng lực cạnh tranh.
Đồng thời, nền kinh tế Việt Nam cần tập trung phát triển theo hướng xanh, tuần hoàn và bền vững về môi trường – xã hội, coi đây là xu thế không thể đảo ngược. Quan trọng nhất đó chính là đẩy mạnh khả năng học hỏi - khả năng điều chỉnh - hợp tác của hệ thống chính sách.
“Các nhóm động lực này không phải là lựa chọn, mà là yêu cầu tất yếu đối với tăng trưởng của Việt Nam trong thời gian tới”, ông Thành nhấn mạnh.
Trụ sở làm việc mới của Tỉnh ủy, Đoàn Đại biểu Quốc hội, Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân tỉnh Khánh Hòa là công trình trụ sở cấp tỉnh đầu tiên tại Việt Nam đạt chứng nhận công trình xanh quốc tế EDGE Advanced...
Vượt qua những tác động từ các chính sách thuế quan quốc tế, chi phí vận hành gia tăng và các biến động địa chính trị phức tạp, khu vực doanh nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 đang cho thấy khả năng chống chịu với những khó khăn của nền kinh tế. Tuy vậy, cùng với quy luật “đào thải và tái cấu trúc” đang diễn ra với tốc độ rất nhanh, số lượng doanh nghiệp phải tạm dừng cuộc chơi cũng chạm mức cao...
Sáu tháng đầu năm 2026, hoạt động vận tải tiếp tục duy trì đà tăng trưởng hai con số ở cả lĩnh vực hành khách và hàng hóa, phản ánh nhu cầu đi lại, sản xuất và lưu thông hàng hóa của nền kinh tế tiếp tục mở rộng. Tuy nhiên, cơ cấu vận tải chưa ghi nhận nhiều thay đổi khi đường bộ vẫn đảm nhận phần lớn dòng chảy vận tải của cả nước. ..
Thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong nửa đầu năm 2026 ghi nhận con số tăng trưởng tích cực trong bối cảnh biến động phức tạp của tình hình địa chính trị toàn cầu và sự tái định vị của chuỗi cung ứng quốc tế. Với định hướng chính sách rõ ràng, Việt Nam tiếp tục khẳng định là điểm đến an toàn của nhà đầu tư nước ngoài.
Thông tin từ Bộ Tài chính cho thấy, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.807,8 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước. Vốn FDI sáu tháng đạt 13,03 tỷ USD, đạt mức cao nhất sáu tháng đầu năm của các năm từ 2022 đến nay. Có ba yếu tố tích cực khiến nguồn vốn FDI tăng mạnh…
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam (nay là Tạp chí Kinh tế Việt Nam) trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng không chỉ ở tên gọi và số lượng các ấn phấm báo chí đã phát hành, mà còn được thể hiện ở tư duy bứt phá của những thế hệ lãnh đạo được giao nhiệm vụ thực hiện sứ mệnh phát triển “dòng thông tin kinh tế phục vụ công cuộc kiến tạo và phát triển đất nước”.
Thông tin từ Bộ Tài chính cho thấy, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.807,8 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước. Vốn FDI sáu tháng đạt 13,03 tỷ USD, đạt mức cao nhất sáu tháng đầu năm của các năm từ 2022 đến nay. Có ba yếu tố tích cực khiến nguồn vốn FDI tăng mạnh…