Sáng 3/12 tại Viêng Chăn, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Thủ tướng Lào Sonexay Siphandone đồng chủ trì Kỳ họp lần thứ 48 Ủy ban Liên Chính phủ về hợp tác song phương Việt Nam – Lào.
Kỳ họp nhằm đánh giá toàn diện việc triển khai các thỏa thuận trong khuôn khổ Kế hoạch hợp tác giai đoạn 2021-2025 và năm 2025; đồng thời thống nhất phương hướng hợp tác giai đoạn 2026-2030 và năm 2026, cụ thể hóa kết quả Cuộc họp cấp cao giữa hai Đảng.
Thủ tướng Sonexay Siphandone nhiệt liệt chào mừng đoàn Việt Nam, nhấn mạnh chuyến công tác của Thủ tướng Phạm Minh Chính diễn ra đúng dịp Lào kỷ niệm 50 năm Quốc khánh, mang ý nghĩa quan trọng trong triển khai các thỏa thuận cấp cao và hiện thực hóa quan hệ “gắn kết chiến lược”.
Thủ tướng Phạm Minh Chính cảm ơn sự đón tiếp trọng thị, đồng thời chúc mừng những thành tựu quan trọng mà Lào đạt được sau 50 năm lập nước và 40 năm đổi mới.
Hai Thủ tướng bày tỏ vui mừng trước thành tựu mà hai nước đạt được thời gian qua; tin tưởng công cuộc đổi mới, phát triển, bảo vệ Tổ quốc của mỗi nước sẽ tiếp tục tạo dấu ấn mới; quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào ngày càng đi vào chiều sâu.
Tại kỳ họp, sau khi nghe báo cáo rà soát các lĩnh vực hợp tác giai đoạn 2021-2025 và phương hướng 2026-2030, lãnh đạo hai Chính phủ và các bộ, ngành đã trao đổi, thống nhất nhiều biện pháp để triển khai thỏa thuận với các chương trình, dự án cụ thể.
Thủ tướng Phạm Minh Chính ghi nhận kết quả đạt được trong bối cảnh nhiều khó khăn, nhờ sự chỉ đạo của Bộ Chính trị hai nước và nỗ lực của các cấp, ngành, địa phương. Phạm Minh Chính chỉ rõ các đầu việc tốt, đó là: hợp tác chính trị ở mức cao nhất; quốc phòng – an ninh giữ vai trò trụ cột; kinh tế – thương mại tăng trưởng mạnh; hợp tác tài chính có đột phá; tiến triển tích cực trong năng lượng; hiệu quả của viện trợ; hoạt động của tổ chuyên gia Lào – Việt; hợp tác giáo dục – đào tạo, văn hóa – du lịch tăng mạnh; và việc tháo gỡ các vướng mắc tại dự án.
Hai Thủ tướng thống nhất rằng trên nền tảng quan hệ chính trị – ngoại giao tin cậy, hợp tác quốc phòng và an ninh giữa hai nước tiếp tục chặt chẽ, đóng góp quan trọng vào ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; xây dựng tuyến biên giới Việt Nam – Lào hòa bình, hữu nghị, ổn định và phát triển. Hai bên phối hợp hiệu quả trong phòng, chống tội phạm, nhất là tội phạm xuyên quốc gia.
Về kinh tế, thương mại, đầu tư, hợp tác hai nước ghi nhận nhiều bước tiến. Đến tháng 4/2025, Việt Nam có 267 dự án đầu tư tại Lào với tổng vốn đăng ký 5,63 tỷ USD. Trong 10 tháng năm 2025, Việt Nam đầu tư sang Lào 566,1 triệu USD, tập trung vào năng lượng sạch, khai khoáng và nông nghiệp.
Nhiều dự án hoạt động hiệu quả, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội, tạo việc làm và tăng thu ngân sách cho Lào, nhất là viễn thông, ngân hàng, chế biến cao su, nông sản, thực phẩm.
Kim ngạch thương mại hai nước 10 tháng năm 2025 đạt 2,6 tỷ USD, tăng 50,4% so với cùng kỳ 2024, Việt Nam nhập siêu 626,2 triệu USD. Các lĩnh vực giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, văn hóa, du lịch, giao lưu nhân dân, hợp tác địa phương… tiếp tục được tăng cường. Hai nước phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn khu vực, nhất là trong ASEAN.
Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh yêu cầu tạo đà, tạo lực mới để đưa quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào lên tầm cao mới, trở thành hình mẫu trong quan hệ quốc tế.
Hai Thủ tướng thống nhất triển khai ngay nội hàm quan hệ mới “Hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện, gắn kết chiến lược” với năm trụ cột: chính trị là sống còn; quốc phòng – an ninh và kinh tế là then chốt; khoa học – công nghệ, giáo dục – đào tạo là đột phá; hợp tác doanh nghiệp và nhân dân là nền tảng; hợp tác địa phương là đòn bẩy.
Thủ tướng Sonexay Siphandone cam kết chỉ đạo Phân ban Lào – Việt tạo bước đột phá trong thực hiện thỏa thuận; khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam đầu tư các dự án quy mô lớn; thúc đẩy kết nối hạ tầng, năng lượng; triển khai đường bộ cao tốc Viêng Chăn – Hà Nội và dự án khai thác muối mỏ kali; nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực; thúc đẩy xây dựng Đại học Lào – Việt.
Hai Thủ tướng nhất trí nâng mức độ tin cậy chiến lược; tăng cường hợp tác quốc phòng – an ninh; tạo bước chuyển mạnh mẽ trong hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư và phát triển hạ tầng. Hai bên sẽ ưu tiên thúc đẩy kết nối hai nền kinh tế, bảo đảm an ninh kinh tế và năng lượng; tháo gỡ rào cản để các chương trình và dự án đạt hiệu quả cao.
Trong năm 2026, hai bên tập trung triển khai hiệu quả các Tuyên bố chung và Thỏa thuận ký kết tại Kỳ họp 48. Hai nước tăng cường các cơ chế hợp tác; tổ chức hiệu quả các chuyến thăm và tiếp xúc cấp cao; duy trì tính linh hoạt trong phối hợp giữa các cấp, ngành, địa phương. Hợp tác quốc phòng – an ninh tiếp tục được ưu tiên, gắn với xây dựng tuyến biên giới hòa bình, ổn định.
Về kinh tế, hai bên thúc đẩy tiếp xúc giữa lãnh đạo Chính phủ Lào và doanh nghiệp Việt Nam; rà soát các dự án đầu tư; nghiên cứu triển khai các dự án lớn như Đại học Lào – Việt, Trung tâm Triển lãm. Lào cam kết tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam, điều chỉnh quy định về đầu tư thủy điện, khai khoáng; thúc đẩy tăng kim ngạch thương mại năm 2026 từ 10-15% so với 2025, hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD và xa hơn là 10 tỷ USD/năm. Hai nước đặc biệt coi trọng hợp tác nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Trong giáo dục – đào tạo, Việt Nam tiếp tục dành 1.300 suất học bổng cho Lào; cử giáo viên sang giảng dạy tiếng Việt; tăng cường trao đổi chuyên gia, nâng chất lượng đào tạo nguồn nhân lực.
Hai Thủ tướng khẳng định sẽ chỉ đạo quyết liệt để bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp phối hợp triển khai các thỏa thuận; tạo điều kiện tối đa cho hợp tác đầu tư – kinh doanh. Thành công của Kỳ họp được kỳ vọng tạo động lực mới, đưa quan hệ Việt Nam – Lào phát triển sâu sắc, thực chất, hiệu quả hơn nữa.
Tại kỳ họp, hai bên ký kết các văn kiện quan trọng gồm: Hiệp định hợp tác Chính phủ Việt Nam – Lào giai đoạn 2026-2030; Thỏa thuận Kế hoạch hợp tác năm 2026; Biên bản Kỳ họp 48 Ủy ban Liên Chính phủ; và Kế hoạch hợp tác 2026 giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo hai nước.




Việt Nam đang sở hữu nguồn lợi hải sản và tài nguyên sinh học biển phong phú, từ nguồn gen, vi sinh vật, rong biển, vi tảo đến lượng lớn thủy sản. Tuy nhiên, lợi thế về sinh khối mới chỉ là điểm khởi đầu. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng phát hiện các hợp chất có hoạt tính sinh học, giải mã cơ chế, phát triển sản phẩm, làm chủ công nghệ tinh chế, tạo tài sản trí tuệ và đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Với đường bờ biển dài, nằm gần các tuyến hàng hải quốc tế quan trọng và là một trong những nền kinh tế có độ mở thương mại cao, Việt Nam đứng trước cơ hội lớn để nâng tầm vị thế trong mạng lưới hàng hải và logistics khu vực. Tuy nhiên, cạnh tranh hàng hải hiện nay đang chuyển sang cuộc đua về chất lượng dịch vụ rất mạnh mẽ. Do đó, Việt Nam cần phải hình thành một hệ sinh thái hàng hải đủ mạnh để chuyển hóa lợi thế vị trí địa lý thành năng lực hàng hải thực sự.
Không gian biển đang trở thành một trong những nguồn lực phát triển chiến lược của Việt Nam, nhưng đây cũng là nguồn lực hữu hạn khi ngày càng nhiều ngành kinh tế cùng tìm kiếm những khu vực có điều kiện thuận lợi nhất để phát triển. Trong bối cảnh đó, quy hoạch không gian phải trở thành công cụ kiến tạo giá trị, điều phối các lợi ích và tổ chức những không gian phát triển đa mục tiêu…
Đại dương đang được tái định vị từ không gian chủ yếu để khai thác tài nguyên thành không gian tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và cạnh tranh chiến lược, đây chính là bối cảnh mới để nhìn nhận kinh tế biển Việt Nam. Phát triển kinh tế biển không còn chỉ là khai thác tốt hơn những nguồn lực Việt Nam đang có, mà còn là xác lập vị trí của Việt Nam trong cấu trúc đang thay đổi của kinh tế đại dương toàn cầu.
Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh tăng trưởng cao phải gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước; đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm thực thi của địa phương, bảo đảm thành quả phát triển thực sự đến với người dân.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Cận thị bệnh lý (cận thị thoái hóa/cận thị ác tính) là dạng cận thị nghiêm trọng và nguy hiểm nhất. Khác với cận thị thông thường, bệnh liên quan đến sự kéo dài bất thường và liên tục của trục nhãn cầu, dẫn đến các tổn thương cấu trúc ở đáy mắt và có nguy cơ cao gây mù lòa.