
Không nhanh, mạnh như những chuyển động cùng kỳ năm 2008, nhưng cạnh tranh lãi suất huy động VND đang diễn ra khá căng thẳng.
Trung tuần tháng 4, lãi suất giao dịch bình quân bằng VND trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng có xu hướng tăng ở hầu hết các kỳ hạn; đáng chú ý là ở kỳ hạn 12 tháng, lãi suất đã chạm tới mốc 9%/năm.
Nửa cuối tháng 4, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng dần điều chỉnh, chủ yếu ở các kỳ hạn ngắn (qua đêm, 1 tuần, 2 tuần), nhưng tại các kỳ hạn dài hơn (1, 2, 3, 6 và 12 tháng) đang có xu hướng tăng trở lại.
Cũng từ nửa cuối tháng 4 trở lại đây, lãi suất huy động VND của hầu hết các ngân hàng thương mại đều đã tăng khá mạnh, tập trung ở các kỳ hạn dài, trên 12 tháng. Mốc cao nhất 8,7%/năm kỳ hạn 36 tháng của Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) đầu tháng 4 nhanh chóng bị vượt qua. Mức cao nhất tính đến ngày 29/4 được ghi nhận ở 9,3%/năm, kỳ hạn 36 tháng của Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB).
Điểm chung của những điều chỉnh lãi suất của các ngân hàng thương mại vừa qua là tập trung ở các kỳ hạn dài; những biến động lớn chủ yếu có ở các kỳ hạn trên 12 tháng; lãi suất các kỳ hạn từ 12 tháng trở xuống tương đối ổn định, xoay quanh mức 8%/năm, một số thành viên áp từ 8,4% - 8,5%/năm. Theo đó, “đường cong lãi suất” đã được “uốn” theo hướng cao dần ở các kỳ hạn từ thấp đến cao, như yêu cầu mà các thành viên Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) đặt ra cuối năm 2008.
Theo lý giải của một số ngân hàng thương mại, việc điều chỉnh lãi suất tập trung cho các kỳ hạn dài hiện nay là sự nắm bắt xu hướng trở lại của lạm phát, từ yêu cầu vốn trong và dài hạn cho hoạt động giải ngân hỗ trợ doanh nghiệp theo chương trình kích cầu của Chính phủ…
Và để tránh xáo trộn mặt bằng lãi suất chung, nhiều thành viên lần lượt đưa ra thị trường các sản phẩm mang tính chiến lược trong ngắn hạn, như một giải pháp tháo gỡ khó khăn về cầu vốn trước mắt. Bên cạnh các chương trình khuyến mại, các gói sản phẩm gọi vốn lãi suất cao thường chỉ triển khai trong khoảng thời gian từ 2 – 3 tháng.
Như tại SHB, sản phẩm gọi vốn trọng điểm lúc này là chương trình “Tiết kiệm siêu hấp dẫn 3 ”, chỉ áp dụng trong vòng 2 tháng (từ 2/4 – 2/6) với lãi suất lên tới 9,3%/năm ở kỳ hạn 36 tháng; mức lãi suất cộng thưởng có thể thêm 0,25%/năm.
Tại một số ngân hàng lớn như Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV), Ngân hàng Công thương (VietinBank)…, lãi suất huy động thường áp thấp hơn khối cổ phần hoặc các ngân hàng nhỏ, nhưng sức cạnh tranh cũng đã được đẩy cao với các sản phẩm ngắn hạn. Như tại Vietinbank, với chứng chỉ tiền gửi chỉ phát hành trong 2 tháng (từ 15/4 – 15/6) lãi suất cũng đã lên tới 9% kỳ hạn 36 tháng; ở các kỳ hạn khác cũng đã ngang ngửa với nhiều thành viên có biểu cao trên thị trường hiện nay.
Phía sau sự âm ỉ nóng của lãi suất huy động hiện nay là cầu vốn của các ngân hàng thương mại với kế hoạch trọng điểm của năm là giải ngân theo chương trình hỗ trợ lãi suất của Chính phủ. Và từ tháng 4, yêu cầu vốn “nóng” hơn khi các khoản vay trung và dài hạn được bổ sung vào diện hỗ trợ này.
Trong khi đó, có thể lãi suất huy động hiện nay vẫn chưa thực sự hấp dẫn để các nhà băng cải thiện tốc độ huy động. Đáng chú ý là nguồn vốn huy động từ các tổ chức đã sụt giảm mạnh theo ghi nhận tại một số thành viên lớn; như tại Vietcombank, quý 1/2009, mức sụt giảm là khoảng 15%. Diễn biến này cũng khớp với hướng chuyển động nổi bật của dòng tiền trên thị trường chứng khoán trong tháng 3 và 4 vừa qua.
Trong khoảng 6 tuần từ tháng 3 và nửa đầu tháng 4, thị trường chứng khoán Việt Nam chứng kiến chuỗi phiên sôi động với những kỷ lục khối lượng và giá trị giao dịch liên tục bị đánh đổ. Lượng cầu liên tục duy trì trên 100 triệu đơn vị/phiên riêng trên HOSE, lượng khớp đỉnh điểm đạt trên 100 triệu đơn vị cả hai sàn với trên 2.500 tỷ đồng giá trị… là sức mạnh của những nguồn vốn lớn.
Và nguồn gốc sức mạnh đó chắc chắn có từ những cuộc chia tay với két của các ngân hàng thương mại.




Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Quyết định 1743/QĐ-NHNN, nâng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước được tính vào nguồn vốn huy động của các ngân hàng thương mại từ 20% lên 50% khi xác định tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) trong 2 năm...
Khép lại tuần giao dịch 27–31/7, tỷ giá USD trên thị trường tự do giảm về vùng thấp nhất kể từ đầu năm, trong khi tỷ giá ngân hàng giảm 50 đồng/USD ở cả hai chiều mua – bán, trái ngược với xu hướng tăng của tỷ giá trung tâm. Diễn biến này phản ánh áp lực tỷ giá trong nước đang hạ nhiệt, dù rủi ro từ chính sách của Fed và giá dầu vẫn hiện hữu...
Sau hơn một năm thực thi, Luật Các tổ chức tín dụng 2024 đã tạo nền tảng quan trọng cho an toàn hệ thống ngân hàng thông qua cơ chế can thiệp sớm, xử lý tổ chức tín dụng yếu kém và kiểm soát sở hữu chéo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy trọng tâm cải cách đang chuyển từ xử lý khủng hoảng sang nâng cao năng lực phòng ngừa rủi ro. Thách thức hiện nay không chỉ là hoàn thiện pháp luật mà còn là nâng cao chất lượng thực thi, dữ liệu, giám sát và quản trị để tăng sức chống chịu của hệ thống.
Ngày 27/7, thị trường tự do ghi nhận giá mua USD cao hơn từ 233 - 465 đồng so với các ngân hàng nhưng giá bán lại thấp hơn 55 - 137 đồng. Chênh lệch giá mua - bán trên thị trường tự do khoảng 20 đồng mỗi USD...
Lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng giảm xuống mức thấp nhất kể từ đầu năm, nhưng lãi suất kỳ hạn 1 tháng vẫn neo trên 7%, kéo chênh lệch giữa hai kỳ hạn lên gần 5 điểm phần trăm. Diễn biến này cho thấy thanh khoản ngắn hạn được cải thiện nhờ các biện pháp điều hành của Ngân hàng Nhà nước, song thị trường vẫn thận trọng với triển vọng nguồn vốn trong bối cảnh rủi ro bên ngoài gia tăng…
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Những nếp nhà sàn nép mình bên sườn núi, thửa ruộng bậc thang uốn lượn hay bữa cơm đậm hương vị bản địa đang trở thành "điểm chạm" níu chân du khách. Từ những giá trị vốn có, nhiều vùng cao đã biến du lịch cộng đồng thành động lực phát triển kinh tế và nâng cao đời sống người dân.