
“C
ác doanh nghiệp Việt Nam hiện vẫn phải vay vốn với lãi suất quá cao, nên khó cạnh tranh trong xuất khẩu và cả ở thị trường nội địa
”,
TS. Lưu Đức Hải, Viện Chiến lược phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) nói tại
một hội thảo do
Ngân hàng Nhà nước tổ chức ở Hà Nội, s
áng 30/5.
Tại đây, các khuyến nghị giảm tiếp lãi suất đã được đặt ra.
Cụ thể, đối với xuất khẩu, các doanh nghiệp của Việt Nam mặc dù đã được hưởng ưu đãi nhưng vẫn đang vay với lãi suất là 8 - 10%/năm. Trong khi doanh nghiệp của các nước có mặt hàng xuất khẩu cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam lại đang vay với lãi suất thấp hơn nhiều, chẳng hạn như Trung Quốc là 6,6%, Thái Lan là 6,9%, Malaysia là 4,9%.
Dù lãi suất cho vay đã giảm phân nửa so với những năm căng thẳng 2010-2011, nhưng theo TS. Hải, việc phải vay với mức lãi suất cao hơn từ 1,4-2 lần so với các nước khác như hiện nay đang làm cho hàng hóa của Việt Nam khó cạnh tranh; làm suy yếu dần các doanh nghiệp xuất khẩu.
Còn tại thị trường nội địa, đa số các doanh nghiệp Việt Nam đang vay với lãi suất 10 - 13%/năm; trong khi các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI) nếu vay ở chính quốc để đầu tư vào Việt Nam thì mức lãi vay thấp hơn nhiều.
Từ nhiều năm nay, tại các nước có đầu tư nhiều ở Việt Nam như Mỹ có lãi suất luôn ổn định là 3,3%/năm, Nhật Bản là 1,5%, Hàn Quốc là 4,7%, Đài Loan là 2,9%.
Theo đó, sự chênh lệch về lãi suất như trên đã tạo ra những lợi thế nhất định cho các doanh nghiệp FDI so với các doanh nghiệp Việt Nam nếu tiêu thụ các hàng hóa cùng loại tại thị trường nội địa.
“Thực tiễn trên cho thấy rằng, mức lãi suất của Việt Nam hiện nay mặc dù đã giảm nhiều nhưng so với các nước khác vẫn là quá cao, đang là một sức ép rất lớn đối với các doanh nghiệp; nếu không sớm hạ nhanh lãi suất về ngang bằng các quốc gia khác thì nền kinh tế sẽ khó có sự tăng trưởng nhanh và ổn định trong trung và dài hạn”, ông Hải khuyến nghị.
Một trong những giải pháp giảm lãi suất cho vay mà chuyên gia này đưa ra là tư duy lại phương pháp điều hành theo “chính sách lãi suất thực dương”.
Chính sách lãi suất thực dương đang được sử dụng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Bản chất của nó là đảm bảo mức lãi suất đủ bù đắp sự mất giá của đồng tiền và có lãi thực, tức là lãi suất tiền gửi ngân hàng phải lớn hơn tỷ lệ lạm phát (ngược lại, lãi suất thực âm nếu mức lãi suất tiền gửi nhỏ hơn tỷ lệ lạm phát). Chính sách này có ưu điểm là cân bằng được lợi ích của người gửi tiền với lợi ích của hệ thống tín dụng và nền kinh tế.
Cũng như nhiều nước khác, Việt Nam đang áp dụng chính sách lãi suất thực dương trong điều hành chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, TS. Lưu Đức Hải đưa ra những điểm đáng chú ý liên quan đến chính sách này.
Thứ nhất, do tâm lý tích trữ và tình trạng vàng, đô la hóa ở Việt Nam còn quá cao nên chính sách lãi suất thực dương tác động không quá lớn đến lượng tiền gửi của dân cư; tổng số dư tiền gửi của hệ thống ngân hàng tăng không tương xứng, chủ yếu dòng tiền dịch chuyển từ ngân hàng này sang ngân hàng khác.
Thứ hai, khi lạm phát đang ở mức cao so với các quốc gia khác như hiện nay thì nếu duy trì liên tục chính sách lãi suất thực dương sẽ trực tiếp đẩy lãi suất cho vay lên cao, gián tiếp gây ra các khó khăn, đổ vỡ cho hàng loạt doanh nghiệp.
Thứ ba, lãi suất thực dương tại Việt Nam đang được tính toán căn cứ vào theo lạm phát toàn phần, trong khi thế giới căn cứ vào lạm phát cơ bản. Vì đã chưa loại trừ các yếu tố mùa vụ nên lạm phát toàn phần bao giờ cũng cao hơn lạm phát cơ bản, do vậy nếu sử dụng lạm phát toàn phần làm căn cứ xác định lãi suất thực dương thì vô hình chung đã đẩy lãi suất tiền gửi lên cao hơn mức cần thiết.
Và theo chuyên gia này, ước tính người gửi tiền vẫn có lãi khi lãi suất tiền gửi giảm 15-30% (cũng đồng nghĩa với lãi suất cho vay có thể giảm tương ứng) so với mức hiện nay nếu sử dụng lạm phát cơ bản trong điều hành chính sách tiền tệ.
Với những so sánh và phân tích trên, trong tham luận của mình, TS. Lưu Đức Hải cho rằng Ngân hàng Nhà nước cần có chính sách giảm dần lãi suất cho vay quá cao hiện nay xuống ngang bằng với các nước trong khu vực và thế giới thông qua sử dụng linh hoạt chính sách lãi suất.
Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước có thể áp dụng chính sách lãi suất thực âm trên cơ sở tạo ra sự đồng thuận, chia sẻ lợi ích giữa người gửi tiền, ngân hàng và doanh nghiệp. Năm 2008, khi lạm phát ở mức 22% Việt Nam cũng đã sử dụng chính sách lãi suất thực âm; trên thế giới cũng đã có nhiều quốc gia sử dụng thành công chính sách lãi suất thực âm khi nền kinh tế suy thoái như: Trung Quốc các năm 2004, 2008, Mỹ năm 2004.
Ngân hàng Nhà nước xem xét, cân nhắc sử dụng yếu tố lạm phát cơ bản thay cho lạm phát toàn phần trong tính toán điều hành chính sách lãi suất để hạ lãi suất huy động, làm căn cứ cho việc hạ lãi suất cho vay.
Lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng giảm xuống mức thấp nhất kể từ đầu năm, nhưng lãi suất kỳ hạn 1 tháng vẫn neo trên 7%, kéo chênh lệch giữa hai kỳ hạn lên gần 5 điểm phần trăm. Diễn biến này cho thấy thanh khoản ngắn hạn được cải thiện nhờ các biện pháp điều hành của Ngân hàng Nhà nước, song thị trường vẫn thận trọng với triển vọng nguồn vốn trong bối cảnh rủi ro bên ngoài gia tăng…
Đến ngày 23/7, lãi suất huy động trực tuyến bình quân của 36 ngân hàng đạt khoảng 6,16%/năm (kỳ hạn 6 tháng) và 6,39%/năm (kỳ hạn 12 tháng). So với cuối tháng 6/2026, chỉ có 2 ngân hàng tăng lãi suất…
Tỷ giá USD/VND chịu tác động bất lợi khi nhập siêu nới rộng và giá dầu Brent leo lên 96,2 USD/thùng, song thanh khoản hệ thống ngân hàng vẫn ở trạng thái thuận lợi có thể góp phần hạn chế biến động mạnh trên thị trường ngoại hối...
Theo HSBC, kết quả tăng trưởng GDP 8,18% trong 6 tháng đầu năm phản ánh nền kinh tế Việt Nam đang có thêm nhiều động lực tăng trưởng, trong đó FDI tiếp tục là "lá phiếu tín nhiệm" của nhà đầu tư quốc tế. Dù vậy, áp lực lạm phát, tỷ giá và lãi suất vẫn là những biến số đáng lưu ý trong những tháng cuối năm...
Trong 6 tháng đầu năm 2026, lượng kiều hối chuyển về TP. Hồ Chí Minh đạt hơn 4 tỷ USD. Trong đó, riêng châu Á và châu Mỹ tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất, đóng góp hơn 81% tổng lượng kiều hối…
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 30-2026 phát hành ngày 27/07/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Tuy đã có các khung cơ bản nhưng những chi tiết để doanh nghiệp có thể thực hiện được dự án tín chỉ carbon vẫn còn thiếu. Doanh nghiệp vẫn đang chờ hướng dẫn chi tiết từ các bộ, ngành để có thể tạo ra tín chỉ trao đổi, bù trừ trong nước và có thêm loại hàng hóa thứ hai đưa lên sàn giao dịch, thay vì chỉ có Hạn ngạch như hiện nay.