Giới phân tích cho rằng, diễn biến lãi suất từ đầu quý 4/2025 đến nay như lò xo bị nén trong thời gian dài, nay bật mạnh trở lại. Căn nguyên là do chênh lệch giữa dư nợ tín dụng và tổng tiền gửi kể từ năm 2022...
Từ đầu quý 4/2025, lãi suất VND trên thị trường liên ngân hàng có xu hướng tăng mạnh.
Đến ngày 2/12, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND tiếp tục tăng 0,2 - 0,5 điểm phần trăm (đpt) ở các kỳ hạn ngắn trong khi giảm 0,05 đpt ở kỳ hạn 1 tháng so với phiên liền trước (1/12). Cụ thể, lãi suất qua đêm 7,5%/năm; 1 tuần 7,5%/năm; 2 tuần 6,3%/năm và 1 tháng 6,9%/năm.
Lãi suất chào bình quân liên ngân hàng USD giảm 0,01 đpt ở các kỳ hạn qua đêm và 1 tuần trong khi giữ nguyên ở kỳ hạn 2 tuần, tăng 0,01 đpt ở kỳ hạn 1 tháng, giao dịch tại: qua đêm 3,91%/năm; 1 tuần 3,97%/năm; 2 tuần 4,02%/năm và 1 tháng 4,06%/năm.
Giới phân tích cho rằng, diễn biến lãi suất từ đầu quý 4/2025 đến nay như lò xo bị nén trong thời gian dài, nay bật mạnh trở lại. Căn nguyên là do chênh lệch giữa dư nợ tín dụng và tổng tiền gửi kể từ năm 2022...
Trên kênh cầm cố, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 16.652,48 tỷ đồng trong phiên 2/12, với tổng lượng lưu hành đạt 359.294,87 tỷ đồng. Tính từ đầu quý IV đến nay, dù thanh khoản được hỗ trợ đều qua kênh OMO, lãi suất liên ngân hàng vẫn ở mức cao.
Theo giới phân tích, diễn biến lãi suất từ đầu quý IV/2025 đến nay không đơn thuần là yếu tố mùa vụ, mà giống như một chiếc lò xo bị nén trong thời gian dài, nay bật mạnh trở lại. Việc tiền gửi liên tục tăng chậm hơn tín dụng suốt ba năm qua cho thấy mặt bằng lãi suất hiện tại chưa phù hợp với nhu cầu thị trường.
Từ đầu năm 2022, chênh lệch giữa dư nợ tín dụng và tổng tiền gửi bắt đầu xuất hiện và liên tục nới rộng đến tháng 9/2025.
Huy động từ khu vực dân cư duy trì xu hướng tăng ổn định và liên tục trong hơn ba năm qua, cho thấy niềm tin của người dân vào hệ thống ngân hàng vẫn được giữ vững, bất chấp biến động lãi suất và kinh tế vĩ mô. Từ đầu năm 2022 đến tháng 9/2025, huy động dân cư tăng đều, đóng vai trò trụ cột trong tổng huy động của toàn hệ thống.
Ngược lại, huy động từ tổ chức kinh tế biến động mạnh và thiếu ổn định. Trong nhiều giai đoạn, nhất là năm 2023 và đầu 2024, tốc độ tăng trưởng tiền gửi của khối này chậm lại; thậm chí chí có những thời điểm ghi nhận suy giảm.
Từ cuối năm 2024 sang 2025, tăng trưởng huy động từ tổ chức kinh tế bắt đầu phục hồi rõ rệt nhưng vẫn thấp hơn so với khu vực dân cư. Sự phân hóa này phần nào phản ánh tâm lý thận trọng của doanh nghiệp trong bối cảnh kinh doanh còn nhiều bất định, khiến họ ưu tiên giữ một tỷ lệ cao tài sản ở dạng tiền và các khoản tương đương tiền nhằm đảm bảo vốn lưu động.
Ngoài ra, có ý kiến cho rằng mức lãi suất huy động hiện nay vẫn thấp hơn “phần bù rủi ro kỳ vọng”, tức là mức lãi suất cần thiết để bù đắp rủi ro lạm phát và chi phí cơ hội khi gửi tiền vào ngân hàng thay vì lựa chọn các kênh đầu tư khác. Điều này khiến nhiều tổ chức kinh tế không ưu tiên gửi tiền vào ngân hàng trong cơ cấu tài chính của mình.
Mặc dù đã có một số đợt tăng lãi suất, mặt bằng hiện tại vẫn thấp hơn khoảng 200 điểm cơ bản so với giai đoạn trước COVID và thấp hơn khoảng 80 điểm so với mức bình quân giai đoạn 2020 – đầu 2022.
Theo cập nhật từ báo cáo tài chính của nhóm ngân hàng niêm yết, khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và huy động đã nới rộng từ 1,8 điểm phần trăm lên 4,4 điểm phần trăm trong quý 3/2025. Một số ngân hàng ghi nhận tăng trưởng huy động âm trong quý 3.
Chênh lệch ngày càng lớn giữa tín dụng và tiền gửi buộc các ngân hàng phải mở rộng sang các kênh huy động vốn thay thế.
Giai đoạn từ năm 2019 đến quý 3/2025 xuất hiện những thay đổi đáng chú ý trong cơ cấu huy động vốn của hệ thống ngân hàng. Tỷ trọng tiền gửi khách hàng (Customer Deposits), vốn là nguồn huy động truyền thống và chủ lực, có xu hướng giảm dần.
Năm 2020, tiền gửi khách hàng chiếm tới 80,5% tổng nguồn vốn, song đến quý 3/2025, tỷ trọng này giảm còn 69,8%, tương đương mức sụt giảm gần 11 điểm phần trăm trong 5 năm. Diễn biến này phản ánh tốc độ huy động từ khu vực dân cư và tổ chức kinh tế không theo kịp đà mở rộng tín dụng, buộc các ngân hàng phải đa dạng hóa nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn ngày càng tăng.
Trong khi đó, huy động từ thị trường liên ngân hàng (Interbank) tăng đều qua các năm, từ 11,2% năm 2019 lên 17,4% vào quý 3/2025. Xu hướng tăng trở nên rõ nét kể từ năm 2023 và tiếp tục duy trì trong năm 2024–2025.
Huy động qua kênh phát hành trái phiếu (Debentures) được giữ ổn định trong suốt giai đoạn, dao động từ 5,9% đến 9,6%. Mức tăng nhẹ kể từ năm 2021 phản ánh nỗ lực của các ngân hàng trong việc mở rộng huy động trung và dài hạn, dù tỷ trọng vẫn còn khiêm tốn so với tổng nguồn vốn.
Trong bối cảnh chính sách kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 chữ số, áp lực lạm phát sẽ ngày càng rõ nét, đòi hỏi mặt bằng lãi suất huy động phải điều chỉnh tương ứng để bảo toàn lợi suất thực cho dòng tiền gửi...
Tuy nhiên, sự gia tăng phụ thuộc vào nguồn vốn liên ngân hàng cũng cho thấy áp lực thanh khoản trong hệ thống. Khi các ngân hàng phải dựa vào nguồn vốn ngắn hạn từ nhau để bù đắp thiếu hụt từ tiền gửi khách hàng, rủi ro thanh khoản có xu hướng gia tăng.
Do đó, việc các ngân hàng thương mại điều chỉnh tăng lãi suất tiết kiệm được xem là cần thiết nhằm cải thiện khả năng huy động vốn, giảm phụ thuộc vào các kênh phi truyền thống, đồng thời nâng cao mức độ an toàn hệ thống.
Theo các chuyên gia, khi chính sách kinh tế chuyển sang thúc đẩy tiêu dùng và tăng trưởng cao hơn, áp lực lạm phát sẽ gia tăng, đòi hỏi lãi suất huy động cần điều chỉnh tương ứng để bảo toàn lợi suất thực cho dòng tiền gửi.




Như vậy, cả ba ngân hàng trung ương lớn có cuộc họp trong tuần này đều giữ nguyên lãi suất...
Kết thúc 6 tháng đầu năm 2026, Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank - HOSE: NAB) tiếp tục ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực với lợi nhuận trước thuế đạt 3.159 tỷ đồng, tăng 25% so với cùng kỳ năm trước…
Khép lại tuần giao dịch 27–31/7, tỷ giá USD trên thị trường tự do giảm về vùng thấp nhất kể từ đầu năm, trong khi tỷ giá ngân hàng giảm 50 đồng/USD ở cả hai chiều mua – bán, trái ngược với xu hướng tăng của tỷ giá trung tâm. Diễn biến này phản ánh áp lực tỷ giá trong nước đang hạ nhiệt, dù rủi ro từ chính sách của Fed và giá dầu vẫn hiện hữu...
Báo cáo tài chính hợp nhất quý 2/2026 của Công ty Cổ phần Tập đoàn Đầu tư BIG (UPCoM: BIG) ghi nhận doanh thu vượt 161 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế tăng 175% so với cùng kỳ.
Đây có thể là dấu hiệu cho thấy một trong những động lực tăng trưởng lớn nhất của nhu cầu vàng đang dần suy yếu...
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.