
Giá vàng trong nước và thế giới
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Thứ Sáu, 02/01/2026
Mạnh Thắng
10/02/2012, 13:35
Ngân hàng lớn vẫn áp đảo trong cạnh tranh huy động vốn, bởi họ có những ưu thế tích lũy lâu dài chứ không chỉ ở lãi suất
Trong khoảng 2,8 triệu tỷ đồng vốn huy động từ thị trường của toàn hệ thống các tổ chức tín dụng, nhóm ngân hàng lớn tuy ít thành viên hơn nhưng vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo; riêng khối cổ phần, những thành viên lớn cũng đang tạo sự dịch chuyển rõ nét.
Thống kê của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tại thời điểm cuối năm 2007, các tổ chức tín dụng nhà nước nắm giữ tới 59,5% thị phần. Đáng chú ý là nhóm này chỉ bao gồm 6 thành viên (Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank, MHB và Ngân hàng Chính sách xã hội), trong khi hệ thống có khoảng 100 ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Sự chi phối của 6 thành viên này trong huy động vốn (đúng hơn là chỉ 5 thành viên vì quy mô của MHB còn rất nhỏ) được giải thích từ nhiều nguyên do: họ là những ngân hàng có bề dày truyền thống trên dưới 50 năm, gắn bó với quá trình hình thành và phát triển của thị trường; họ có quy mô lớn cả về năng lực tài chính và mạng lưới (chỉ riêng Agribank đã có tới khoảng 2.400 chi nhánh); đã có quá trình hoạt động lâu dài cùng tiềm lực tài chính lớn để đầu tư và đi trước một quãng đường dài về sản phẩm dịch vụ…
Tuy nhiên, từ cuối năm 2007 đến nay, miếng bánh thị phần huy động vốn của các ngân hàng đã có sự dịch chuyển nhanh chóng với sự bật lên của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần có quy mô lớn như ACB, Techcombank, Sacombank… Khoảng cách về quy mô vốn, tổng tài sản, mạng lưới và đặc biệt là về khả năng đầu tư phát triển công nghệ và sản phẩm của nhóm này đã không còn quá lớn so với 5 thành viên nói trên so với thời điểm trước năm 2007.
Cơ cấu thị phần huy động vốn theo đó đã có thay đổi và đang tiếp tục diễn ra mạnh mẽ. Cuối năm 2008, tỷ lệ của nhóm 5 thành viên trên và MHB đã giảm xuống còn 57,1%, trong khi khối thương mại cổ phần đã tăng lên 33,1%. Cuối năm 2009, sự dịch chuyển càng rõ nét hơn tương ứng là 49,7% và 40,8%. Và theo dữ liệu cập nhật gần nhất, trong số khoảng 2,8 triệu tỷ đồng vốn huy động từ thị trường 1 cuối tháng 10/2011, khối ngân hàng cổ phần đã chính thức chiếm ngôi đầu với thị phần lớn nhất là 45,2%, trong khi nhóm 6 thành viên quốc doanh chỉ còn lại 43,8%, còn lại là các nhóm khác.
Sự lấn sân nhanh chóng của khối ngân hàng thương mại cổ phần mà trọng tâm là một số những ngân hàng cổ phần lớn nói trên thể hiện rõ qua quy mô vốn chủ sở hữu đã lần lượt tiếp cận và vượt mốc 10.000 tỷ đồng, tổng tài sản của ACB, Techcombank… cũng đã liên tục tăng mạnh và đạt trên dưới 150.000 tỷ đồng; hệ thống mạng lưới liên tục mở rộng... Đặc biệt, đây là nhóm năng động nhất trong đầu tư, ứng dụng công nghệ và phát triển sản phẩm.
Đi cùng với sự dịch chuyển thị phần huy động đó, Ngân hàng Nhà nước cũng kỳ vọng rằng, trong thời gian tới sẽ có khoảng 8 - 10 ngân hàng thương mại cổ phần cùng với khối quốc doanh tạo thành những trụ cột cho hệ thống. Theo Thống đốc Nguyễn Văn Bình, nhóm trụ cột này có tiềm lực tài chính mạnh, hoạt động hiệu quả và đặc biệt là có được sự lành mạnh trong hoạt động để củng cố sự bền vững cho cả hệ thống, đặc biệt là ở khả năng chống đỡ với những cơn bão khắc nghiệt của nền kinh tế bên trong và bên ngoài như từng xảy ra những năm gần đây.
Triển vọng trong những năm tới, nhiều chuyên gia dự báo thị trường sẽ tiếp tục chứng kiến sự lớn mạnh và chi phối của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần lớn, bên cạnh cơ hội tăng cường sức mạnh khi được cổ phần hóa ở nhóm quốc doanh. Riêng trong hoạt động huy động vốn, xu hướng dịch chuyển thị phần nói trên sẽ tiếp tục thể hiện.
Theo tổng giám đốc một ngân hàng thương mại cổ phần lớn, môi trường huy động vốn những năm gần đây, đặc biệt là năm 2010 và 2011, càng tạo điều kiện để tạo sự sàng lọc và cạnh tranh.
“Lâu nay nhiều người vẫn quan niệm lãi suất là lực hút chính của dòng tiền gửi. Đó đúng là yếu tố quan trọng, nhưng không hẳn có tính quyết định. Có nhiều yếu tố khác nữa tác động tới lựa chọn của người gửi tiền như: sự tin cậy, uy tín ngân hàng và những tiện ích mà ngân hàng đó cung cấp. Một ngân hàng có năng lực tài chính mạnh, thương hiệu uy tín, kinh doanh hiệu quả sẽ tạo được niềm tin; có mạng lưới rộng khắp và tính tương tác cao giữa các sản phẩm tiện ích sẽ tạo thêm nhiều giá trị gia tăng khác. Để có được lợi thế này đòi hỏi một quá trình và quy mô đầu tư lớn - điều mà những ngân hàng yếu khó hội đủ để có thể cạnh tranh”, vị tổng giám đốc này nói.
Quan điểm trên được ông đưa ra khi đề cập đến những xáo trộn trong cạnh tranh, liên quan đến tình trạng vượt trần lãi suất ở một số ngân hàng yếu, khó khăn thanh khoản trong thời gian qua. Nhưng thực tế cho thấy, nhiều khách hàng hiện nay không đơn thuần chỉ gửi tiền lấy lãi, mà còn có nhu cầu giao dịch linh hoạt, sử dụng dịch vụ thẻ hiện đại và thuận tiện, hay có thể kết nối với các kênh đầu tư, bảo hiểm… Cạnh tranh chính nằm ở đây hơn là ở “chiêu” vượt trần lãi suất và thế mạnh vẫn tập trung ở các ngân hàng lớn.
Bên cạnh cơ cấu thị phần nói trên, hiện chưa có tập hợp đầy đủ song những dữ liệu ban đầu cho thấy tăng trưởng huy động vốn của hầu hết các ngân hàng lớn đều đạt mức cao trong năm 2011, từ 15% đến hơn 30%, cao hơn nhiều mức bình quân hệ thống là 9,89%. Ngược lại, huy động vốn tại nhiều ngân hàng nhỏ đã bắt đầu chậm lại, chỉ tăng trưởng trên dưới 10%, thậm chí có những trường hợp sụt giảm từ 15% - 22%...
Đề cập đến định hướng điều hành chính sách tiền tệ năm 2026, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước xác định trọng tâm “ổn định vĩ mô và kiểm soát lạm phát”. Đây được xem là điều kiện tiên quyết trong bối cảnh nhà điều hành phải giải quyết nhiều thách thức đồng thời: cung cầu ngoại tệ thiếu ổn định, mặt bằng lãi suất có xu hướng tăng, thanh khoản không đồng đều giữa các tổ chức...
Thủ tướng Phạm Minh chính đánh giá giai đoạn 2021–2025 mặc dù bối cảnh thế giới nhiều bất ổn, kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn nhưng ngành ngân hàng vẫn duy trì vai trò trụ cột ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng. Người đứng đầu Chính phủ cũng nhắc nhở ngành cần xử lý dứt điểm các ngân hàng yếu kém, đặc biệt là SCB...
Ngân hàng Nhà nước cho biết tính đến ngày 24/12, tổng dư nợ tín dụng đạt khoảng 18,4 triệu tỷ đồng, tăng 17,87 % so với cuối năm 2024, tương ứng gần 2,79 triệu tỷ đồng đã được “bơm” ra nền kinh tế. Ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ cho biết đến hết năm 2025, tăng trưởng tín dụng có thể đạt 19%...
Tuần từ 22/12 đến 26/12/2025, thị trường liên ngân hàng ghi nhận diễn biến trái chiều: lãi suất VND qua đêm giảm mạnh 1,4 điểm phần trăm (đpt) so với 19/12, còn 4,3%/năm; trong khi kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần tăng vọt, lần lượt lên 8,55% và 8,73%/năm…
Năm 2025 khép lại trong bối cảnh ngành ngân hàng phải đồng thời giải quyết nhiều sức ép, từ yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế đến nhiệm vụ kiểm soát lạm phát, đảm bảo hệ thống và ổn định tỷ giá. Những biến động khó lường từ vĩ mô, căng thẳng địa chính trị hay thiên tai, tiếp tục gia tăng mức độ bất định đối với hoạt động điều hành…
Thương hiệu xanh
Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?
Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán), có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu). Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính: