"Tổng số cơ sở nuôi biển thống kê chưa đầy đủ tính đến hết năm 2022 khoảng 7.447 cơ sở với 248.768 lồng/bè".
Ông Trần Công Khôi, Trưởng phòng Giống và Thức ăn thủy sản, Cục Thủy sản.
Chủ trì Hội nghị “Thực trạng cung ứng con giống, thức ăn, vật tư nuôi biển; truy xuất nguồn gốc sản phẩm và giải pháp phát triển bền vững nuôi biển Việt Nam” vừa qua, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phùng Đức Tiến cho biết một trong những điều kiện để được Ủy ban châu Âu gỡ “thẻ vàng” đối với thủy sản Việt Nam là phải giảm cường lực đánh bắt từ 3,8 triệu tấn/năm hiện nay, xuống dưới 2 triệu tấn/năm. Muốn vậy phải thúc đẩy nuôi trồng theo chuỗi khép kín để đạt sản lượng nuôi biển 2 triệu tấn/năm vào năm 2035.
Trong thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành nhiều chính sách để thúc đẩy nuôi biển phát triển. Nhờ vậy, ngành công nghiệp nuôi biển đã bước đầu được hình thành như: hạ tầng vùng sản xuất giống, vùng nuôi tập trung, công nghiệp phụ trợ (thức ăn, thiết bị nuôi), công nghiệp chế biến, phát triển thị trường tiêu thụ… Hiện nay, nuôi biển đã hình thành được một số vùng nuôi công nghiệp, con giống cũng phong phú. Đó là những tiềm năng cần được khai thác trong bối cảnh mới.
Theo Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, nuôi biển là một lĩnh vực có rất nhiều tiềm năng với diện tích mặt biển trên 1 triệu km2. Mặc dù vậy, ngành nuôi biển vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Cụ thể như: hoạt động nuôi tự phát, phá vỡ quy hoạch, tiêu thụ sản phẩm khó khăn, công nghệ sản xuất giống, quản lý môi trường vùng nuôi, phòng trị bệnh trên đối tượng nuôi còn nhiều hạn chế. Trong khi đó, nghiên cứu, dự báo thị trường tiêu thụ sản phẩm nuôi biển còn yếu.
"Tổng số cơ sở nuôi biển thống kê chưa đầy đủ tính đến hết năm 2022 khoảng 7.447 cơ sở với 248.768 lồng/bè".
Ông Trần Công Khôi, Trưởng phòng Giống và Thức ăn thủy sản, Cục Thủy sản.
Nêu bức tranh toàn cảnh về nghề nuôi biển, ông Trần Công Khôi, Trưởng phòng Giống và Thức ăn thủy sản, Cục Thủy sản, cho biết hiện diện tích nuôi biển ở nước ta đạt hơn 256.000 ha, sản lượng hải sản nuôi thu hoạch năm 2022 đạt 750.000 tấn, năm 2023 có thể đạt gần 800.000 tấn.
Trong đó, diện tích nuôi trồng nhuyễn thể (chủ yếu ngao, sò) lớn nhất với 57.000 ha, 1 triệu m3 lồng bè, sản lượng đạt 480.000 tấn. Nuôi cá biển khoảng 11.000 ha và 4 triệu m3 lồng, sản lượng 65.000 tấn. Nuôi tôm hùm khoảng 4 triệu m3 lồng, sản lượng 2.500 tấn.
Từ thực tế địa phương, ông Trần Hòa Nam, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa, cho biết Khánh Hòa có chiều dài đường bờ biển 385 km với 200 hòn đảo lớn nhỏ, nhiều đầm, vịnh kín gió cùng với các cảng nước sâu nên rất thuận lợi cho phát triển nuôi trồng hải sản. Hiện Khánh Hòa có trên 97.000 lồng nuôi trồng hải sản, sản lượng hàng năm 18.000 tấn.
Các đối tượng nuôi chính trên biển tại Khánh Hòa là cá chẽm, cá bớp, cá chim vây vàng, tôm hùm…Tuy vậy, hoạt động nuôi biển của Khánh Hòa chủ yếu là nuôi gần bờ với quy mô nhỏ lẻ, vật liệu lồng bè nuôi bằng gỗ truyền thống độ bền thấp, sử dụng thức ăn tươi… đang gây ô nhiễm môi trường và chồng chéo với việc sử dụng diện tích mặt nước với các ngành kinh tế khác.
Tại hội nghị, nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân nuôi trồng hải sản trên biển đã nêu lên những vướng mắc trong việc giao, cấp quyền sử dụng mặt nước cho nuôi hải sản. Trả lời về vấn đề này, ông Nguyễn Thanh Huyên, đại diện Cục Biển và Hải đảo Việt Nam (Bộ Tài Nguyên và Môi trường), cho biết việc giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản cơ bản được thực hiện theo quy định về giao đất có mặt nước ven biển, giao mặt nước biển để nuôi trồng thủy sản theo Luật Thủy sản và Luật Đất đai.
Tuy nhiên, theo số liệu báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường các địa phương có biển, đến hết tháng 12/2022, việc giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản vẫn còn chậm, hầu như các địa phương chưa giao được khu vực biển nào để nuôi trồng thủy sản. Nhằm tháo gỡ khó khăn cho việc giao và cấp quyền sử dụng mặt biển để thúc đẩy nuôi biển, ông Huyên cho biết Cục Biển và Hải đảo Việt Nam đang tham mưu cho Quốc hội phê duyệt “Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050”. Quy hoạch này hướng tới mục tiêu, tạo cơ sở cho phát triển kinh tế biển nhanh và bền vững.
Nhiều ý kiến tại hội nghị đã đề xuất những giải pháp thúc đẩy nuôi biển. Đó là, cần phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển thành một lĩnh vực sản xuất hàng hóa, khuyến khích phát triển nuôi trồng thủy sản quy mô công nghiệp ở các vùng biển mở.
Ngoài ra, cần phát triển nuôi trồng vi tảo, rong biển phục vụ nhu cầu thực phẩm và cung cấp nguyên liệu cho các ngành kinh tế khác (mỹ phẩm, dược phẩm,...), nuôi trồng thủy sinh vật làm cảnh. Cần khuyến khích phát triển các mô hình nuôi trồng hải sản áp dụng công nghệ mới, tiên tiến, giảm giá thành sản xuất, thân thiện môi trường; các mô hình nuôi hữu cơ, nuôi sinh thái, áp dụng các tiêu chuẩn chứng nhận thực hành nuôi trồng thủy sản tốt (GAP) để nâng cao giá trị và phát triển bền vững.
Theo Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, từ nay đến năm 2030, chúng ta phấn đấu đạt sản lượng nuôi biển 1,45 triệu tấn/năm. Trên cơ sở đó, Thứ trưởng đề nghị các đơn vị có liên quan tiếp tục ưu tiên đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng nuôi biển. Các bộ, ngành, địa phương khẩn trương xây dựng quy hoạch, quy định giao mặt nước biển, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, người dân an tâm đầu tư phát triển. Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, tập trung vào việc nâng cao năng lực, chất lượng con giống, quy trình nuôi, chế độ dinh dưỡng, phòng chống dịch bệnh…
Bên cạnh đó, đầu tư phát triển công nghệ, năng lực chế biến để đa dạng hóa, nâng cao giá trị sản phẩm; đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại để mở thêm thị trường tiêu thụ hải sản. Cùng với đó, đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực quản lý và nuôi biển: số hóa việc cấp mã số vùng nuôi, giải quyết thủ tục cấp phép, giám sát hoạt động nuôi biển.
Nội dung bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 49-2023 phát hành ngày 04-12-2023. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://postenp.phaha.vn/chi-tiet-toa-soan/tap-chi-kinh-te-viet-nam
Trong bối cảnh các mỏ dầu khí truyền thống ngày càng suy giảm, tiềm năng mới chủ yếu nằm ở vùng nước sâu, xa bờ với điều kiện địa chất phức tạp và yếu tố nhạy cảm về quốc phòng, an ninh, việc sửa đổi Luật Dầu khí mang ý nghĩa chiến lược đặc biệt...
Phát triển bền vững không còn là trách nhiệm xã hội hay nhiệm vụ riêng của bộ phận ESG, mà đã trở thành năng lực cạnh tranh cốt lõi và động lực tăng trưởng hàng đầu. Cuộc đua này đòi hỏi sự gắn kết chiến lược, đồng hành hành động giữa Doanh nghiệp – Địa phương – Nhà trường - Quốc gia...
Trước áp lực cạnh tranh gia tăng từ hàng hóa nhập khẩu, việc vận dụng hiệu quả các công cụ phòng vệ thương mại không chỉ đơn thuần là giải pháp ứng phó tình huống, mà đã trở thành "lá chắn" chiến lược quan trọng giúp bảo vệ các ngành công nghiệp nền tảng, tạo dựng môi trường cạnh tranh bình đẳng và thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững...
Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) xây dựng ba kịch bản xuất khẩu thủy sản năm 2026, trong đó kịch bản cơ sở dự báo kim ngạch đạt 12,1 - 12,3 tỷ USD. Để đạt mục tiêu này, ngành kỳ vọng duy trì đà tăng tại các thị trường trọng điểm, đồng thời các điểm nghẽn về chi phí và thương mại được tháo gỡ…
Hàn Quốc từng là thành trì vững chắc của các thương hiệu ô tô nội địa và phương Tây. Tuy nhiên, thị trường này đang chứng kiến một cuộc lật đổ ngoạn mục khi xe điện sản xuất tại Trung Quốc ồ ạt tiến vào, chinh phục người tiêu dùng nhờ giá cả cạnh tranh và công nghệ hiện đại…
Sáu tháng đầu năm 2026 khép lại với nhiều tín hiệu tích cực của nền kinh tế. Đằng sau những con số tăng trưởng là yêu cầu nhìn lại hiệu quả thực thi các quyết sách và nhận diện những động lực cần tiếp tục được khơi thông trong chặng đường còn lại của năm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đang trải qua tuần làm việc đầu tiên. Hàng loạt các dự án Luật, dự thảo Luật quan trọng được các đại biểu Quốc hội tập trung thảo luận. Trong đó có dự án Nghị quyết nhằm bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm.