
Được coi là nghịch lý trước hết khi vị thế trong quan hệ xuất/nhập khẩu hạt điều 4 tháng ngược chiều so với các năm trước.
Theo đó, trong quan hệ xuất/nhập khẩu hạt điều của Việt Nam với nước ngoài, Việt Nam đã chuyển vị thế từ xuất siêu tương đối lớn trong các năm trước và trong cùng kỳ năm trước sang nhập siêu lớn trong 4 tháng đầu năm nay. Đây là một trong những yếu tố góp phần làm cho mức xuất siêu chung của cả nước trong 4 tháng năm nay bị giảm so với cùng kỳ năm trước (1,63 tỷ USD so với 2,59 tỷ USD, với tỷ lệ xuất siêu 1,6% so với 3,2%).
Trước hết là do kim ngạch xuất khẩu hạt điều có xu hướng giảm qua các năm, trong khi kim ngạch nhập khẩu hạt điều tuy có xu hướng giảm trong các năm trước nhưng tăng đột ngột lớn trong 4 tháng đầu năm nay (xem biểu đồ 2). Theo đó, 4 tháng 2021 so với cùng kỳ năm trước giảm 1,7%, thì nhập khẩu tăng tới 313%.
Kim ngạch xuất khẩu hạt điều có xu hướng giảm như trên không phải do lượng hạt điều xuất khẩu giảm mà còn ngược lại là liên tục tăng (xem biểu đồ 3).
Năm 2020 so với năm 2016 tăng 48,4%, bình quân một năm tăng gần 10,4%; 4 tháng năm 2021 so với cùng kỳ năm trước tăng 15,2%- Đó là tốc độ tăng rất cao, một mặt do lượng hạt điều nhập khẩu tăng, một phần do sự nỗ lực trong việc duy trì và phát triển cây điều.
Được coi là nghịch lý, bởi điều là thế mạnh của Việt Nam. Diện tích cây điều liên tục được duy trì ở mức trên dưới 300 nghìn ha, nhưng những năm gần đây đã thấp xa so với đỉnh điểm (379 nghìn ha vào năm 2010). Sản lượng hạt điều năm 2020 đã đạt 340 nghìn tấn, cao nhất từ 2016, nhưng vẫn còn thấp hơn đỉnh điểm (352 nghìn tấn vào năm 2015).
Nguyên nhân thứ hai là do giá xuất khẩu hạt điều bị giảm gần như liên tục trong thời gian qua (xem biểu đồ 4). Theo đó, giá xuất khẩu hạt điều năm 2020 so với năm 2016 giảm 23,9%, bình quân một năm giảm 6,6%; 4 tháng năm 2021 giảm tới 14,7% so với cùng kỳ năm trước. Đây là những tốc độ giảm khá lớn và kéo dài.
Thị trường xuất khẩu hạt điều của Việt Nam có khoảng trên 30 nước và vùng lãnh thổ. Trong 4 tháng đã có 20 thị trường mà Việt Nam xuất khẩu hạt điều đạt trên 1 nghìn tấn, trong đó có 5 thị trường đạt trên 5,5 nghìn tấn (Mỹ 45,7 nghìn, Trung Quốc gần 22 nghìn, Hà Lan trên 19,9 nghìn, Đức trên 5,5 nghìn, Canada trên 5,5 nghìn). Có 17 thị trường đạt trên 10 triệu USD, trong đó 5 thị trường đạt trên 30 triệu USD (Mỹ 251,4 triệu, Trung Quốc 158,8 triệu, Hà Lan 92,8 triệu, Canada 37,4 triệu, Đức 32,9 triệu). Có 19 thị trường tăng kim ngạch xuất khẩu; số thị trường giảm ít hơn, nhưng mức độ giảm nhiều hơn, trong đó giảm lớn (trên 10 triệu USD) lớn nhất là Mỹ, Đức, Hà Lan.
Thị trường nhập khẩu hạt điều của Việt Nam tập trung vào 6 thị trường (xem biểu đồ 5).
Trong 6 thị trường, có 5 thị trường tăng, trong đó có thị trường có mức tăng rất cao, như Campuchia lên tới hàng tỷ USD (đã góp phần làm cho Việt Nam chuyển từ xuất siêu 957,5 triệu USD trong 4 tháng đầu năm 2020 sang nhập siêu 713,9 triệu USD trong năm nay); Tanzania tăng trên 100 triệu USD, trở thành một trong 80 thị trường xuất/nhập khẩu lớn của Việt Nam; Bờ biển Ngà tăng trên 60 triệu USD, góp phần làm cho Việt Nam nhập siêu từ thị trường này trong 4 tháng đầu năm nay cao hơn cùng kỳ năm trước (62,8 triệu USD so với 6,8 triệu USD).
Lượng nhập khẩu từ 6 thị trường này chỉ có Indonesia là giảm (17,9 nghìn tấn so với 25,5 nghìn), còn 5 thị trường khác tăng lớn, như Campuchia (836,7 nghìn so với 161,1 nghìn), Tanzania (131,8 nghìn so với 54,9 nghìn), Bờ biển Ngà (76 nghìn so với 18,7 nghìn), Gana (23,3 nghìn so với 16 nghìn), Nigieria (9,8 nghìn so với 3,7 nghìn).
Nghịch lý trên có thể xuất hiện khi nguồn cung nguyên liệu (hạt điều) năm trước và đầu năm nay bị đứt gãy và được dự đoán có thể còn tiếp tục bị đứt gãy trong năm nay, hoặc có thể được dự báo khả năng giá cả sẽ còn tăng cao, nên tăng lượng nhập khẩu để dự phòng, đón đầu; nhưng cần cẩn trọng vì nó ảnh hưởng đến người trồng điều, ảnh hưởng đến cán cân thương mại, cán cân thanh toán tổng hợp, ổn định tỷ giá... Đây đều là những nội dung của kinh tế vĩ mô.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang hoàn thiện Dự thảo sửa đổi Nghị định 38/2026/NĐ-CP nhằm cụ thể hóa Nghị quyết 36/2026/NQ-CP về đơn giản hóa thủ tục cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Đáng chú ý, nhiều bộ, ngành đề xuất bổ sung quy định người không có quyền sử dụng đất phải có văn bản đồng ý của chủ sử dụng khi đưa diện tích đất vào hồ sơ đề nghị cấp mã số vùng trồng...
Quy định mới của Indonesia đặt ra những quy trình kiểm định nghiêm ngặt ngay tại nước xuất xứ, đòi hỏi các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm Halal sang nước này phải khẩn trương thích ứng để tránh rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng...
Chỉ còn gần 2 tháng nữa, ngành cà phê sẽ kết thúc niên vụ 2025-2026 và bước vào vụ thu hoạch mới. Trong bối cảnh nguồn cung được cải thiện, Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (Vicofa) dự báo xuất khẩu cà phê năm 2026 tiếp tục tích cực, với sản lượng cả năm có thể tăng khoảng 8-10% so với năm 2025...
Dù dư địa hợp tác còn rất lớn nhưng kim ngạch thương mại Việt – Nga vẫn chịu nhiều áp lực từ chi phí logistics, hàng rào kỹ thuật và sự thụ động của doanh nghiệp. Để lấy lại đà tăng trưởng xuất khẩu, hàng loạt giải pháp căn cơ từ tháo gỡ chính sách đến chủ động xúc tiến thị trường cần được cấp bách triển khai...
Dòng vốn FDI từ Đức đang chảy nhiều hơn vào lĩnh vực hydrogen tại Việt Nam trong khoảng 2 năm qua. Điều gì khiến dòng vốn này tăng tốc đúng lúc này, và Việt Nam cần chuẩn bị gì để giữ chân nhà đầu tư?
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Những ngày này, công trường Khu công nghiệp Thăng Long Thanh Hóa trở nên nhộn nhịp với hàng loạt máy móc, thiết bị và công nhân cùng lúc triển khai các hạng mục hạ tầng. Dự án có diện tích 167 ha, tổng mức đầu tư gần 3.000 tỷ đồng và hiện đang vượt tiến độ kế hoạch.