Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đang khẳng định vai trò là đòn bẩy quan trọng cho thương mại Việt Nam.
Theo số liệu được công bố tại tọa đàm “Từ biến động thương mại toàn cầu đến cơ hội thị trường: Tận dụng CPTPP để chuyển hướng và mở rộng xuất khẩu” diễn ra ngày 28/9/2026, kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và các nước thành viên CPTPP năm 2025 đạt 124,5 tỷ USD, trong đó xuất khẩu của Việt Nam đạt 70,6 tỷ USD, tăng 11,5% so với năm 2024. Tăng trưởng này ghi dấu sự đóng góp tích cực từ các thị trường mới chưa từng có Hiệp định thương mại tự do (FTA) trước CPTPP như Canada, Mexico và Peru.
DƯ ĐỊA RỘNG NHƯNG KHÁ THÁCH THỨC VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
Nhìn nhận về quy mô và tiềm năng của hiệp định, ông Ngô Chung Khanh, Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường nước ngoài và Thương mại đa biên (Bộ Công Thương) nhấn mạnh CPTPP không nên chỉ được nhìn nhận như một thỏa thuận khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Hiệp định đang mở rộng không gian địa lý sang châu Âu với Vương quốc Anh, vùng Trung Mỹ với Costa Rica, Uruguay, cùng sự quan tâm từ các đối tác Trung Đông như UAE, khu vực ASEAN như Philippines, Indonesia và cả Ukraine. Điều này biến CPTPP thành một FTA thế hệ mới có tầm vóc toàn cầu.
Bên cạnh vai trò là thị trường tiêu thụ, CPTPP còn là nguồn cung cấp nguyên liệu quan trọng giúp doanh nghiệp đa dạng hóa chuỗi cung ứng. Vì vậy, doanh nghiệp Việt Nam cần thay đổi tư duy, xem CPTPP vừa là thị trường của người mua vừa là thị trường của người bán để khai thác tối đa lợi thế.
Số liệu thực tế phản ánh dư địa khai thác CPTPP còn rất lớn. Tổng kim ngạch nhập khẩu của các nước thành viên CPTPP (ngoại trừ Việt Nam) năm 2025 đạt khoảng 4.250 tỷ USD, nhưng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang khối này mới đạt hơn 70 tỷ USD, tương ứng thị phần vỏn vẹn hơn 1%.
Tại các thị trường mới có FTA như Canada (nhập khẩu hơn 700 tỷ USD/năm) và Mexico (nhập khẩu hơn 650 tỷ USD/năm), kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam lần lượt đạt hơn 7 tỷ USD và khoảng 6,5 tỷ USD, đều chỉ chiếm khoảng 1% thị phần. Ngoại trừ một số mặt hàng như dệt may, da giày đã đạt tỷ trọng 20-22% tại Canada, nhiều nhóm hàng khác như nông sản, thực phẩm vẫn ở mức khiêm tốn.
Bên cạnh những cơ hội rộng mở tại thị trường CPTPP, doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là khối doanh nghiệp vừa và nhỏ đang đối mặt với không ít rào cản nội tại và bên ngoài.
Đánh giá về thực trạng này, bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam, cho biết điểm nghẽn lớn nhất của doanh nghiệp vừa và nhỏ không phải là năng lực sản xuất sản phẩm, mà là sự thiếu hụt thông tin, thiếu nguồn lực tiếp cận thị trường và chưa xây dựng được mạng lưới đối tác tin cậy.
Ngoài ra, việc tuân thủ quy tắc xuất xứ để hưởng thuế ưu đãi cùng các tiêu chuẩn phi truyền thống trong CPTPP như lao động và môi trường đang tạo áp lực lớn. “Nếu không có sự hỗ trợ và tư vấn kịp thời, các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất khó tự mình vượt qua các rào cản kỹ thuật khắt khe này”, bà Hương cảnh báo.
Sự đứt gãy và tính dễ tổn thương của chuỗi cung ứng toàn cầu cũng đặt ra bài toán phức tạp. Những xung đột về mặt chính sách và quy định kiểm soát chuỗi cung ứng giữa các nền kinh tế lớn khiến doanh nghiệp rơi vào thế bế tắc, nếu tuân thủ quy định của bên này thì có nguy cơ vi phạm quy định của bên kia.
NÂNG CAO NĂNG LỰC TUÂN THỦ, THAY ĐỔI PHƯƠNG THỨC THAM GIA THỊ TRƯỜNG
Để biến các cơ hội trên lý thuyết thành giá trị thương mại thực tế, các chuyên gia đã đề xuất những nhóm giải pháp trọng tâm nhằm giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực thích ứng.
Thứ nhất: Nâng cao năng lực tuân thủ. Doanh nghiệp cần đáp ứng nghiêm ngặt quy tắc xuất xứ để được hưởng ưu đãi thuế quan, đồng thời chủ động cập nhật và đáp ứng các tiêu chuẩn cao về thuế, lao động, môi trường mà CPTPP quy định.
Thứ hai: Phát triển năng lực tái tổ chức chuỗi cung ứng.
Trong bối cảnh xuất hiện nhiều chính sách siết chặt hoặc ngăn cản kiểm tra chuỗi cung ứng từ một số quốc gia, việc đa dạng hóa nguồn cung là bắt buộc. CPTPP chính là không gian phù hợp để doanh nghiệp tái cấu trúc, giảm sự phụ thuộc vào một nguồn cung ứng duy nhất.
Thứ ba: Thay đổi phương thức tham gia thị trường và chủ động kết nối.
Bà Hương gợi ý, doanh nghiệp nhỏ không nhất thiết phải tự mình xuất khẩu một sản phẩm hoàn chỉnh. Thay vào đó, doanh nghiệp có thể tham gia vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn với vai trò là nhà cung cấp linh kiện, vật liệu, mô-đun hoặc đảm nhận một công đoạn sản xuất.
Đồng thời, mở rộng thương mại hai chiều cả ở đầu ra lẫn đầu vào sẽ giúp doanh nghiệp thâm nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị. Cùng với đó, doanh nghiệp cần chủ động xây dựng mạng lưới đối tác thông qua việc tích cực tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại, hội chợ, triển lãm quốc tế để tìm kiếm đơn hàng, thay vì thụ động chờ đợi sự hỗ trợ từ các cơ quan quản lý hay thương vụ.
Thứ tư: Duy trì chiến lược cân bằng thị trường.
Ông Khanh lưu ý, việc mở rộng sang các thị trường mới theo CPTPP phải đi đôi với việc giữ vững các thị trường truyền thống. Việc chuyển dịch quá nhanh hoặc từ bỏ đột ngột thị trường cũ khi gặp khó khăn cục bộ có thể mang lại rủi ro lớn khi thị trường mới xuất hiện biến động.
“Một chiến lược đa dạng hóa có lộ trình, cân bằng và linh hoạt theo nguyên tắc không “bỏ trứng vào một giỏ” ở cả thị trường tiêu thụ lẫn nguồn cung nguyên liệu sẽ là nền tảng vững chắc giúp doanh nghiệp vượt qua biến động thương mại toàn cầu”, ông Khanh nhấn mạnh.




Tại Hội nghị Xúc tiến đầu tư quốc tế năm 2026 giữa Điện Biên, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) và tỉnh Luông Pha Bang (Lào), tỉnh Điện Biên đã trao 20 quyết định chấp thuận nhà đầu tư với tổng vốn gần 7.500 tỷ đồng, ký 6 biên bản ghi nhớ hợp tác đầu tư với tổng vốn cam kết trên 12.000 tỷ đồng….
TP. Hồ Chí Minh mở rộng đối tượng và điều kiện tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp không chỉ giúp tối ưu hóa nguồn lực, mà còn thúc đẩy sự phát triển của các khu công nghiệp và công nghệ cao, góp phần vào sự phát triển kinh tế bền vững của Thành phố…
Cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao kỹ năng lao động và bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động đang trở thành những yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp tôm, lúa gạo nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng tiêu chuẩn thị trường quốc tế và hướng tới phát triển bền vững...
Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn (TCSG) được công nhận đạt Thương hiệu Quốc gia Việt Nam năm 2026 đối với hai nhóm dịch vụ: khai thác cảng; dịch vụ logistics, vận tải hàng hóa và các ngành kinh tế biển. Đây là lần thứ 9 liên tiếp TCSG được ghi nhận qua các kỳ xét chọn, đánh dấu hành trình duy trì và cải tiến chất lượng dịch vụ trong 18 năm.
Trong xu thế chuyển dịch năng lượng toàn cầu, điện gió ngoài khơi đang vượt khỏi phạm vi của một nguồn điện tái tạo để trở thành một ngành công nghiệp mới, kéo theo cả hệ sinh thái từ khảo sát biển, chế tạo kết cấu, cáp và thiết bị điện, cảng biển, tàu dịch vụ, logistics, tài chính, bảo hiểm, đến vận hành, bảo dưỡng và công nghệ số. Để biến những cánh đồng gió ngoài khơi thành động lực tăng trưởng mới, Việt Nam cần đồng thời giải quyết bài toán quy hoạch không gian và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lực công nghiệp ngoài khơi.
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Theo Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc, xi măng đất sét nung (LC3) là vật liệu xây dựng mới và bền vững. Chi phí đầu tư thấp, thân thiện với môi trường và khí hậu hơn so với xi măng thông thường... việc phát triển, phổ biến xi măng hỗn hợp phù hợp với mục tiêu sản xuất và tiêu dùng bền vững mà Chính phủ đã đề ra.