Chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam đã trải qua 23 năm đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp cả nước dưới sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành và địa phương. Kiên định với ba giá trị cốt lõi: Chất lượng, Đổi mới sáng tạo và Năng lực tiên phong, chương trình đã thành công trong việc khơi dậy khát vọng xây dựng các thương hiệu mạnh, đưa trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam vươn ra thế giới.
Tại buổi Họp báo giới thiệu và cung cấp thông tin về Lễ Công bố sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam lần thứ 10 năm 2026 diễn ra ngày 29/9/2026, Thứ trưởng Bộ Công Thương Lương Hoàng Thái khẳng định: "Nhìn lại chặng đường đã qua, chúng ta có đầy đủ cơ sở để tự hào về những bước tiến mạnh mẽ của thương hiệu Việt. Theo đánh giá từ tổ chức Brand Finance, đến năm 2026, giá trị Thương hiệu quốc gia Việt Nam đã đạt 462,279 tỷ USD, tăng 45,14% so với năm 2020 và vươn lên vị trí thứ 32 trong tổng số 193 quốc gia được xếp hạng".
Đáng chú ý, tỷ lệ doanh nghiệp có sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia nằm trong Top 50 thương hiệu giá trị nhất Việt Nam đã tăng từ 42% lên 50% trong giai đoạn 2020 - 2026. Đặc biệt, riêng trong Top 10 năm 2026 đã có tới 5 doanh nghiệp đạt Thương hiệu quốc gia, chiếm hơn 69% tổng giá trị của toàn nhóm. Đây là những minh chứng rõ nét cho thấy tiềm lực cũng như sự trưởng thành vượt bậc của các doanh nghiệp trong nước.
ĐỔI MỚI TIÊU CHÍ XÉT CHỌN HƯỚNG TỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Kỳ xét chọn lần thứ 10 năm 2026 đánh dấu bước hoàn thiện quan trọng về khung pháp lý và hệ thống tiêu chí đánh giá. Việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 03/2026/QĐ-TTg và Bộ Công Thương ban hành Thông tư số 18/2026/TT-BCT đã tạo nền tảng vững chắc cho công tác thẩm định, xét chọn.
Ông Hoàng Minh Chiến, Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương), Phó Trưởng Ban Thư ký Chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam, cho biết điểm mới nổi bật nhất trong kỳ xét chọn này là việc tăng mạnh trọng số của nhóm tiêu chí Đổi mới, sáng tạo. Điểm số dành cho nhóm tiêu chí này được nâng từ 180 điểm lên 300 điểm trong tổng thang điểm 1.000, chiếm tỷ trọng 30%.
Sự điều chỉnh này thể hiện rõ nét định hướng mới của chương trình: xây dựng thương hiệu không chỉ dựa vào chất lượng sản phẩm hay vị thế thị trường sẵn có, mà phải gắn liền với nghiên cứu phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ, bảo hộ tài sản trí tuệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển nguồn nhân lực.
Quy trình đánh giá được thực hiện chặt chẽ qua nhiều vòng rà soát độc lập và minh bạch. Cục Xúc tiến thương mại đã phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước để kiểm tra toàn diện tình hình chấp hành pháp luật của doanh nghiệp về thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội, lao động và môi trường.
Bên cạnh đó, kết quả đánh giá còn kết hợp với các chỉ số độc lập về sức khỏe tài chính, xếp hạng tín dụng và mức độ nhận biết thương hiệu, kết hợp xác minh thực tế khi cần thiết.
Trên cơ sở đó, Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 2136/QĐ-BCT công nhận 499 sản phẩm của 227 doanh nghiệp đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam năm 2026. Các doanh nghiệp được vinh danh phủ rộng trên nhiều lĩnh vực then chốt như công nghệ số, tài chính ngân hàng, hàng không, logistics, cơ khí, nông nghiệp, dược phẩm và tiêu dùng.
TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC CHO GIAI ĐOẠN MỚI
Bước vào giai đoạn phát triển tiếp theo, Chương trình Thương hiệu quốc gia xác định chuyển dịch trọng tâm từ hỗ trợ xây dựng thương hiệu sang phát triển giá trị thương hiệu, từ công nhận sản phẩm sang hình thành lực lượng doanh nghiệp dẫn dắt nền kinh tế. Mục tiêu dài hạn là nâng cao năng lực cạnh tranh và sự hiện diện của sản phẩm Việt trên thị trường quốc tế thông qua việc thúc đẩy chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Thứ trưởng Lương Hoàng Thái khẳng định hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, việc xây dựng thương hiệu quốc gia mang ý nghĩa chiến lược trong việc khẳng định bản sắc và vị thế đất nước. Chương trình sẽ tiếp tục phát huy các giá trị văn hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm bằng khoa học công nghệ, đồng thời tăng cường kết nối với ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa.
Để cụ thể hóa các mục tiêu này, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành và địa phương hỗ trợ doanh nghiệp sau khi được công nhận, trọng tâm là bảo vệ thương hiệu, chuyển đổi xanh và xúc tiến thương mại mở rộng thị trường. Đồng thời, các doanh nghiệp đạt Thương hiệu quốc gia cần phát huy vai trò tiên phong, tăng cường liên kết, chia sẻ kinh nghiệm để cùng khẳng định uy tín, chất lượng và trách nhiệm xã hội của doanh nhân Việt Nam.
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhấn mạnh việc sửa đổi Luật Điện lực phải bảo đảm cung cấp đủ nguồn điện cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số. Đồng thời yêu cầu phải tìm điểm cân bằng giữa lợi ích quốc gia, người dân và nhà đầu tư; quyết liệt cải cách thủ tục nhằm đẩy nhanh tiến độ các dự án điện...
Dự án Luật sửa đổi Luật Điện lực được trình Quốc hội nhằm đẩy mạnh phân cấp, cắt giảm thủ tục và gỡ nghẽn đầu tư. Trọng tâm dự thảo hướng đến minh bạch cơ chế giá, xóa bỏ bù chéo, thúc đẩy thị trường điện cạnh tranh gắn liền với an sinh xã hội và an ninh năng lượng…
Đứng trước các tiêu chuẩn môi trường toàn cầu, ngành nhựa Việt Nam đang từng bước bứt phá, chuyển mình mạnh mẽ từ mô hình sản xuất truyền thống sang chuỗi giá trị tuần hoàn, định hình tương lai bền vững...
EUDR đặt ra yêu cầu nghiêm ngặt về tính hợp pháp, truy xuất nguồn gốc địa lý đến từng lô đất và bằng chứng chứng minh sản phẩm không liên quan đến mất rừng, suy thoái rừng sau ngày 31/12/2020. Bản đồ ranh giới rừng năm 2020 phiên bản 1.0 được kỳ vọng hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đối chiếu dữ liệu, hoàn thiện hồ sơ phục vụ xuất khẩu...
Chính phủ đề xuất bãi bỏ, đơn giản hóa 20 thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh; phân cấp, phân quyền 10 nội dung; tháo gỡ 31 nội dung vướng mắc, đặc biệt gắn với yêu cầu của môi trường kinh tế số và nền tảng số.
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Nhà ở xã hội và nhà ở cho thuê trong thời gian qua được ban hành nhiều cơ chế, chính sách thông thoáng, tạo điều kiện thu hút các nguồn lực tham gia đầu tư. Quỹ đất đối với nhà ở cho thuê sẽ được bố trí tại các khu vực phường thuộc đô thị loại đặc biệt, loại 1, loại 2.