Theo Điều 75 Luật Bảo vệ môi trường có hiệu lực từ 01/01/2025, đã quy định rõ và bắt buộc tổ chức, hộ gia đình, cá nhân phát sinh chất thải rắn sinh hoạt có trách nhiệm phân loại rác thải tại nguồn. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cùng với tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa và sự thay đổi trong thói quen tiêu dùng, lượng chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam gia tăng nhanh chóng.
NHỮNG BẤT CẬP, TỒN TẠI PHÂN LOẠI, XỬ LÝ RÁC THẢI
Thống kê trung bình mỗi ngày cả nước phát sinh trên 69.400 tấn rác thải sinh hoạt, nhưng có khoảng 62,97% được xử lý bằng chôn lấp (trong đó phần lớn là chôn lấp không hợp vệ sinh), còn lại được xử lý bằng hình thức đốt. Một số đô thị lớn đã triển khai thí điểm phân loại rác nhưng kết quả còn hạn chế, chưa đảm bảo tính đồng bộ giữa các khâu như thu gom, vận chuyển, xử lý.
Riêng với rác thải nhựa, mỗi năm nước ta phát sinh hàng triệu tấn rác thải nhựa trên đất liền nhưng chỉ khoảng 27% được thu gom, phân loại và tái chế. Hiện nay, lượng rác thải nhựa đổ ra biển của nước ta ước tính khoảng 0,28-0,73 triệu tấn/năm, rác thải nhựa từ ngành khai thác thủy sản như lưới, dây câu, dây thừng chiếm trung bình 51,7% về số lượng và 73,3% về khối lượng rác thải nhựa tồn đọng. Tại nhiều vùng du lịch ven biển vẫn ghi nhận vấn nạn rác thải nhựa áp đảo cảnh quan biển đẹp.
Trong khi đó, vấn đề thu gom rác thải nhựa ven biển và trên đảo còn yếu, nhiều địa phương ven biển, hải đảo báo cáo chưa phân loại được chất thải tại nguồn, thiếu phương tiện, trang thiết bị thu gom, vận chuyển rác thải nhựa như đồ nhựa dùng một lần, túi ni lông, vỏ lon, vỏ chai. Tại các khu du lịch ven biển và cơ sở lưu trú tuy có nhiều chiến dịch làm sạch nhưng vẫn còn hạn chế.
Ô nhiễm rác thải sinh hoạt đang là một trong những thách thức lớn của môi trường đô thị. Tại tọa đàm phân loại rác thải tại nguồn vừa diễn ra, các chuyên gia chỉ rõ: Luật Bảo vệ môi trường 2020 quy định từ ngày 1/1/2025, các hộ gia đình phải phân loại rác thải sinh hoạt thành 3 nhóm trước khi chuyển giao cho đơn vị thu gom.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc triển khai phân loại rác tại nguồn trong đó có Hà Nội vẫn còn nhiều khó khăn, đặc biệt sau giai đoạn thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp. Từ cam kết đến hành động thực tế vẫn là quãng đường nhiều thử thách. Người dân muốn làm, nhưng thiếu hướng dẫn; chính quyền cơ sở thiếu nhân lực, kinh phí; hạ tầng thu gom, vận chuyển chưa đồng bộ.
Phân loại rác tại nguồn theo Luật Bảo vệ môi trường 2020 có hiệu lực từ ngày 01/01/2025 được coi là một bước đi quan trọng tạo nền tảng xây dựng nền kinh tế tuần hoàn, giảm áp lực xử lý rác thải và bảo vệ môi trường, mở ra kỳ vọng thay đổi thói quen xử lý , giảm áp lực chôn lấp rác. Tuy nhiên sau gần 1 năm triển khai, việc phân loại rác tại nguồn vẫn còn ì ạch, chậm trễ.
Ông Đặng Thành Vinh, Phó phòng Quản lý chất thải rắn, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội chia sẻ, thành phố Hà Nội từng thí điểm phân loại rác thải tại nguồn ở 5 quận trong năm 2024, bước đầu đạt kết quả khả quan với hơn 280 tấn rác tái chế và 60 tấn rác cồng kềnh được xử lý riêng.
Tuy vậy, phần lớn chung cư, khu dân cư hiện chưa có đủ hạ tầng cho phân loại ba nhóm rác, trong khi công tác hướng dẫn và kiểm tra còn hạn chế.
Liên quan đến vấn đề này, thảo luận báo cáo kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường mới đây, đại biểu Hoàng Quốc Khánh, đoàn Lai Châu nhận định, hiện nay cơ sở hạ tầng phục vụ việc phân loại rác vẫn còn thiếu và chưa phù hợp. Đồng thời, chưa có quy định về chế tài rõ ràng, thống nhất giữa các địa phương. Chính sách hỗ trợ khuyến khích thực hiện phân loại rác tại nguồn còn ít, công tác giám sát, nhất là xử phạt còn chưa nghiêm dẫn đến việc thực hiện mang tính hình thức.
Không những thế, hạ tầng và công nghệ xử lý rác chưa đáp ứng yêu cầu, nhu cầu đầu tư lớn trong khi nguồn kinh phí địa phương còn hạn hẹp, việc huy động xã hội hóa khó khăn…
Các chuyên gia khẳng định phân loại rác tại nguồn theo Luật Bảo vệ môi trường 2020 có hiệu lực từ ngày 01/01/2025 được coi là một bước đi quan trọng tạo nền tảng để xây dựng nền kinh tế tuần hoàn, giảm áp lực xử lý rác thải và bảo vệ môi trường bền vững, mở ra kỳ vọng thay đổi thói quen xử lý rác và giảm áp lực chôn lấp rác. Tuy nhiên sau gần 1 năm triển khai, việc phân loại rác tại nguồn vẫn còn ì ạch, chậm trễ, chưa thực chất, khiến cho dư luận đặt câu hỏi về những nút thắt trong khâu thực thi.
Bên cạnh khó khăn về cơ sở hạ tầng, một số ý kiến cho rằng chính thói quen của xã hội cũng là một nút thắt khó tháo gỡ. Thói quen tiêu dùng một lần như túi nilon, ống hút nhựa, chai nước đóng sẵn vẫn phổ biến. Đáng chú ý, người dân đã quen với việc bỏ chung rác vào một túi nilon duy nhất rồi thải ra môi trường.
Ngoài ra hiện nay, nhiều địa phương chưa ban hành định mức kinh tế kỹ thuật, đơn giá thu gom vận chuyển, xử lý rác dẫn đến khó khăn trong việc ký kết hợp đồng dịch vụ với các đơn vị công ích.
HƯỚNG TỚI XÂY DỰNG LỐI SỐNG XANH, TẠO ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP MÔI TRƯỜNG
Trước thực trạng quản lý rác thải sinh hoạt còn nhiều bất cập như hiện nay, đại biểu Hoàng Quốc Khánh nhấn mạnh, phân loại rác tại nguồn là giải pháp căn cơ hướng tới xây dựng lối sống xanh, tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường bền vững. Do đó, để công tác này đạt hiệu quả cần có sự vào cuộc đồng bộ của nhà nước, doanh nghiệp và toàn xã hội, đặc biệt là ý thức tự giác của mỗi người dân trong giữ gìn môi trường sống xanh, sạch và an toàn.
Còn theo TS Hoàng Xuân Cơ, Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam, từ thực tế triển khai ở Hà Nội và nhiều địa phương khác, “điểm nghẽn lớn nhất” không nằm riêng ở người dân hay hạ tầng, mà ở cơ chế quản lý thiếu đồng bộ. Người dân phần lớn đã có ý thức, nhưng thiếu hướng dẫn rõ ràng và thiếu niềm tin vì hệ thống thu gom, xử lý chưa tách riêng rác sau phân loại. Dù có nhiều nỗ lực, việc phân loại rác tại nguồn vẫn dừng ở mức “phong trào”, chưa trở thành thói quen xã hội bền vững.
Để tháo gỡ những điểm nghẽn rác thải, đại biểu Trần Nhật Minh, đoàn Nghệ An đề xuất, cần sự đồng bộ trong hệ thống thu gom rác thải. Để chính sách khả thi cần đầu tư kinh phí để có hệ thống thu gom, vận chuyển xử lý riêng biệt cho từng loại rác thải. Tại các địa phương cần đầu tư vào cơ sở hạ tầng đồng bộ, có nhà máy tái chế xử lý rác hữu cơ, rác thải nguy hại tương ứng.
Điểm mới của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 là áp dụng nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền, một chính sách hiệu quả là thu phí thu gom rác theo khối lượng, thay vì thu đồng đều theo hộ gia đình. Điều này đồng nghĩa với việc, ai xả nhiều rác hơn sẽ phải trả nhiều tiền hơn. Đây sẽ là động lực để người dân thực hiện phân loại rác, giảm thiểu rác thải ngay từ hộ gia đình. Mặt khác, cũng khuyến khích người dân tái sử dụng, tái chế và tiêu dùng bền vững; có cơ chế giám sát và chế tài xử phạt nghiêm minh để tăng động lực tuân thủ.
Điều quan trọng hiện nay chính là việc xây dựng lộ trình triển khai phù hợp theo từng địa phương, bởi không thể áp dụng mô hình chung cho tất cả các địa phương vì điều kiện kinh tế, hạ tầng xử lý rác thải ở từng vùng khác nhau, đặc biệt là giữa các vùng đô thị và nông thôn, giữa vùng tập trung đông dân cư và vùng ít dân cư.
Về trách nhiệm của nhà sản xuất (EPR), theo quy định mới, các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh bao bì, sản phẩm nhựa cần có trách nhiệm thu hồi và xử lý rác thải theo sản phẩm của họ tạo ra. Chính sách này đã được áp dụng tại nhiều nước, yêu cầu doanh nghiệp tài trợ cho hệ thống thu gom rác thải tái chế, doanh nghiệp có thể thiết lập điểm thu hồi bao bì tại các siêu thị, cửa hàng tiện lợi khuyến khích người dân mang đến để đổi lấy ưu đãi.
Một số ý kiến đề nghị hoàn thiện hệ thống quy chuẩn kỹ thuật, định mức và đơn giá thu gom xử lý chất thải rắn sinh hoạt để thúc đẩy xã hội hóa đầu tư trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Đồng thời có chính sách khuyến khích các hình thức đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, hỗ trợ tài chính, ưu đãi thuế, phí cho các doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ xanh, công nghệ tái chế.
Ngoài ra, cần đẩy mạnh xã hội hóa và phát triển ngành công nghiệp môi trường thông qua trái phiếu xanh, tín dụng xanh, trợ giá cho các mô hình tái chế, xử lý chất thải…
Theo các chuyên gia, quản lý rác thải nhựa không phải là nhiệm vụ riêng của cơ quan quản lý nhà nước mà là trách nhiệm chung của doanh nghiệp, cộng đồng và mỗi người dân. Thành công phụ thuộc vào quyết tâm chính trị, cơ chế pháp luật chặt chẽ và sự thay đổi hành vi tiêu dùng. Không chỉ kêu gọi thay đổi nhận thức, hành vi tiêu dùng, mà cần sự vào cuộc của các nhà sản xuất, thiết kế sản phẩm, chuỗi cung ứng và hệ thống thu gom, tái chế mới có thể xử lý được những tồn tại của rác thải.
Giai đoạn 2026 - 2028, Hà Nội sẽ rà soát, đánh giá các khu, cụm công nghiệp đang hoạt động và xây dựng đề án chuyển đổi, đăng ký, chứng nhận khu, cụm công nghiệp sinh thái. Giai đoạn 2029 - 2045, triển khai đồng bộ các giải pháp theo đề án đã được phê duyệt; phấn đấu hoàn thành chuyển đổi các khu, cụm công nghiệp đang hoạt động sang mô hình sinh thái vào năm 2045…
Ngân hàng Thế giới hủy mục tiêu dành 45% vốn vay hằng năm cho các dự án khí hậu, song vẫn gia hạn Kế hoạch Hành động về Biến đổi khí hậu (CCAP)...
Theo danh mục được HĐND Thành phố Hà Nội ban hành, có 13 loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường phải thực hiện quan trắc tự động, liên tục nước thải và 5 loại hình phải quan trắc bụi, khí thải...
Chỉ còn chưa đầy hai tuần nữa, Nghị định số 180/2026/NĐ-CP về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng sẽ chính thức có hiệu lực, tạo hành lang pháp lý cho việc triển khai các dự án carbon rừng và phát triển thị trường tín chỉ carbon. Để bảo đảm triển khai đồng bộ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang khẩn trương hoàn thiện Thông tư hướng dẫn phương pháp định giá carbon rừng, dự kiến ban hành trước ngày 15/7/2026...
Doanh số xe điện toàn cầu đang tăng mạnh, nhưng những tranh cãi về tác động môi trường và chuỗi cung ứng khoáng sản của pin xe điện cũng ngày càng gay gắt. Theo nhiều chuyên gia, một số chỉ trích nhằm vào pin xe điện chưa phản ánh đầy đủ những thay đổi đang diễn ra trong công nghệ sản xuất và chuỗi cung ứng của ngành...
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam (nay là Tạp chí Kinh tế Việt Nam) trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng không chỉ ở tên gọi và số lượng các ấn phấm báo chí đã phát hành, mà còn được thể hiện ở tư duy bứt phá của những thế hệ lãnh đạo được giao nhiệm vụ thực hiện sứ mệnh phát triển “dòng thông tin kinh tế phục vụ công cuộc kiến tạo và phát triển đất nước”.
Hiện nhiều cấu phần trong một thiết bị bay không người lái UAV đã được doanh nghiệp Việt Nam tự chủ sản xuất. Tuy nhiên, động lực để phát triển UAV nói riêng và kinh tế tầm thấp nói chung còn đang thiếu. Mở thế chế để quản lý thiết bị bay không người lái, đưa UAV vào từng ngành kinh tế trọng điểm là điều kiện tiên quyết phát triển kinh tế tầm thấp trong thời gian tới.