
Tham gia ý kiến tại “Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2021: Phục hồi và Phát triển bền vững” sáng ngày 5/12, PGS.TS Bùi Quang Tuấn, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, nhấn mạnh tầm quan trọng việc chuyển đổi số trong việc phục hồi và phát triển bền vững hậu đại dịch Covid-19.
Trong bài tham luận với tựa đề “Phục hồi và phát triển kinh tế bền vững thông qua thúc đẩy chuyển đổi số ở Việt Nam”, PGS.TS. Bùi Quang Tuấn đã nêu tóm tắt tình hình kinh tế thế giới, chỉ ra hàng loạt thách thức mà kinh tế thế giới hiện đang đối mặt. Đồng thời, ông cũng nêu rõ thực trạng nền kinh tế Việt Nam năm 2021 cùng các vấn đề đặt ra hiện nay như vấn đề nguy cơ lạm phát kép, nguy cơ nợ xấu.
Theo ông, với quốc gia, việc phát triển kinh tế số giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển các ngành/lĩnh vực mới, tạo việc làm, thay đổi cơ cấu việc làm, nâng cao chất lượng lực lượng lao động, tăng chất lượng dịch vụ công.
Với doanh nghiệp, lợi ích là tăng năng suất, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo cơ hội mở rộng thị trường và gia tăng thị phần, thay đổi linh hoạt hơn, kết nối với khách hàng, nhân viên, đối tác và nhà cung cấp nhanh hơn, đẩy nhanh quá trình ra quyết định.
Còn với người tiêu dùng, kinh tế số giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, tiện ích được cải thiện do ứng dụng công nghệ tiên tiến; mua hàng mọi lúc, mọi nơi chỉ cần có điện thoại thông minh hoặc máy tính kết nội mạng Internet. Giá thành sản phẩm cạnh tranh hơn so với mua qua kênh truyền thống do chi phí sản xuất và phân phối được cắt giảm; thuận tiện trong thanh toán do không phải sử dụng tiền mặt.
Trên cơ sở phân tích đó, ông Tuấn chỉ ra một số định hướng và giải pháp phục hồi và phát triển bền vững nền kinh tế từ góc độ của chuyển đổi số và kinh tế số.
Về ngắn hạn, ông đề nghị cần rà soát, hoàn thiện pháp luật theo hướng thuận lợi hóa mạnh mẽ hơn nữa về môi trường kinh doanh và đầu tư cho các doanh nghiệp, chú ý đến doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, sở hữu trí tuệ, để phát triển các sản phẩm, dịch vụ dựa trên nền tảng số.
Cùng với đó, thúc đẩy kết nối, chia sẻ và khai thác thông tin dữ liệu số hóa trong nước, phát huy vai trò của nguồn tài nguyên số phục vụ cho kinh tế số, thúc đẩy kết nối và chia sẻ thông tin của các cơ quan quản lý, bộ ngành, trung ương, địa phương.
Ông cũng kiến nghị đẩy mạnh đầu tư cho hạ tầng số, nền tảng số, huy động mọi nguồn lực xã hội đầu tư cho các hoạt động nghiên cứu khoa học và triển khai, phát huy vai trò của các quỹ tài chính hỗ trợ đổi mới sáng tạo, khuyến khích thương mại hoá và chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ, khuyến khích và hỗ trợ ứng dụng công nghệ vào thực tiễn sản xuất và kinh doanh.
Song song với đó, đẩy nhanh quá trình thử nghiệm và khẩn trương ứng dụng đại trà các công cụ thanh toán điện tử, tiền số và các hình thức kinh doanh và dịch vụ kinh tế số không dùng tiền mặt; khuyến khích phát triển các định chế tài chính mới như Fintech. Đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số trong quản lý tài chính, thuế, an sinh xã hội, y tế, giáo dục.
Về dài hạn, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng cần phải có cách tiếp cận tổng thể, hệ thống hơn, trong đó chú ý tới các yếu tố của một hệ sinh thái đầy đủ của chuyển đổi số và xu hướng phục hồi xanh.
“Tận dụng phục hồi nền kinh tế để tái cấu trúc theo hướng xanh hóa nền kinh tế là một thời cơ lớn. Chiến lược tăng trưởng xanh cũng xác định 4 nội dung quan trọng là giảm phát thải khí nhà kính, xanh hóa sản xuất, xanh hóa lối sống và tiêu dùng, và xanh hóa quá trình chuyển đổi trên nguyên tắc bình đẳng, bao trùm, nâng cao năng lực chống chịu”, ông Tuấn lưu ý.
Ông nhấn mạnh, các giải pháp để thực hiện chuyển đổi số và phát triển kinh tế số cần phải được lồng ghép tốt với thực hiện các giải pháp của chiến lược tăng trưởng xanh đã được đưa ra ở Quyết định 1685 của Thủ tướng Chính phủ ngày 1/10/2021.
Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam kiến nghị 4 giải pháp can thiệp vào nền kinh tế.
Thứ nhất, ưu tiên nguồn lực củng cố hệ thống y tế trên toàn quốc. Cụ thể, gói củng cố hệ thống y tế cần khoảng 76.000 tỷ đồng.
Thứ hai, tiếp tục củng cố hệ thống an sinh xã hội. Cụ thể, gói củng cố hệ thống an sinh xã hội cần khoảng 58.000 tỷ đồng.
Thứ ba, hỗ trợ doanh nghiệp thiết thực hơn, trong đó gói hỗ trợ doanh nghiệp cần khoảng 244.000 tỷ đồng cùng với việc hạ mặt bằng lãi suất là rất cấp thiết.
Thứ tư, tiếp tục cải cách thể chế, giải quyết những điểm nghẽn trong giải ngân vốn đầu tư công. Ông đề xuất gói đầu tư công với quy mô 288.000 tỷ đồng trong giai đoạn 2 năm 2022-2023.
“Như vậy, tổng gói cứu trợ nền kinh tế dựa trên 4 lĩnh vực ưu tiên dự kiến có giá trị khoảng 666.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 8% tổng giá trị GDP nền kinh tế năm 2020”, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam đề xuất.
Bên cạnh việc xây dựng chính sách, ông Tuấn cũng lưu ý các cơ quan của Chính phủ, Quốc hội và cơ quan tham mưu cần phối hợp chặt chẽ trong việc tính toán nhằm đảm bảo dòng tiền hỗ trợ thực sự được đưa vào hoạt động sản xuất của doanh nghiệp và hộ gia đình thay vì chuyển qua kênh đầu cơ các tài sản tài chính rủi ro, vốn không đóng góp cho phục hồi tăng trưởng.
Tại Chương trình kỷ niệm 195 năm Ngày thành lập tỉnh Thái Nguyên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh Thái Nguyên cần phấn đấu là địa phương có hạ tầng đồng bộ, quản trị hiện đại và chất lượng sống ngày càng cao.
Để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, các đại biểu Quốc hội đề xuất nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, khơi thông các nguồn lực, giảm chi phí sản xuất, kinh doanh và tạo động lực phát triển doanh nghiệp bền vững...
Đối với khoản tiền đặt cọc mua nhà ở hình thành trong tương lai, khoản tiền giữ lại khi người mua chưa được cấp giấy chứng nhận, các đại biểu Quốc hội đề nghị kiểm soát theo đúng bản chất giao dịch, làm rõ điều kiện giải tỏa và trách nhiệm hoàn trả khi phát sinh rủi ro…
Phân tích về bài toán an ninh năng lượng quốc gia, Đại sứ Vũ Quang Minh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, nhấn mạnh tầm quan trọng của ngoại giao kinh tế, lợi thế chiến lược "friend-shoring" và việc hoàn thiện khung khổ pháp lý nhằm thu hút đầu tư quốc tế, tạo động lực vững chắc cho sự phát triển bền vững của ngành dầu khí Việt Nam...
Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026 đã mở thêm các kết nối đầu tư, tài chính và hợp tác quốc tế cho TP.HCM. Hiệu quả của nó sẽ được đo bằng tiến độ triển khai và những giá trị cụ thể tạo ra cho Thành phố.
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Năm 2027, tổng nguồn cung đất san lấp, đá và cát xây dựng tại Thanh Hóa dự kiến đạt hơn 42 triệu m3. Việc đưa thêm các mỏ vào khai thác, kết hợp nguồn vật liệu từ các dự án thu hồi khoáng sản và sản xuất cát nhân tạo được kỳ vọng góp phần giảm áp lực thiếu hụt vật liệu phục vụ các công trình, dự án trên địa bàn.