Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch điện 8)
Theo Quy hoạch điều chỉnh, đến năm 2030 tổng công suất các nhà máy điện phục vụ nhu cầu trong nước dự kiến đạt 183.291 - 236.363 MW, tăng khoảng 30-50% so với mức 150.489 MW của bản quy hoạch cũ. Trong cơ cấu này, năng lượng tái tạo tiếp tục được ưu tiên mở rộng: điện gió trên bờ và gần bờ dự kiến đạt 20.066 - 38.029 MW, gấp 2 đến 3 lần so với mức dự kiến trước đây. Điện gió ngoài khơi được điều chỉnh từ mục tiêu 6.000 MW lên 17.032 MW, với khả năng vận hành giai đoạn 2030-2035 nếu điều kiện kỹ thuật và giá thành cho phép.
Điện mặt trời cũng được nâng chỉ tiêu lên 46.459 - 73.416 MW, so với mức 20.000 MW trong bản cũ. Nguồn điện sinh khối và từ rác thải rắn lần lượt đạt 1.523 - 2.699 MW và 1.441 - 2.137 MW. Điện địa nhiệt và năng lượng mới khác duy trì ở mức 45 MW.
Thủy điện được khai thác tối đa tiềm năng kinh tế - kỹ thuật, tổng công suất ước đạt 33.294 - 34.667 MW vào năm 2030. Riêng điện hạt nhân, lần đầu tiên sau nhiều năm, Quy hoạch điện 8 điều chỉnh đã đưa vào chỉ tiêu 4.000 - 6.400 MW giai đoạn 2030-2035, định hướng 2050 tăng lên 10.500 - 14.000 MW.
Đối với nguồn điện lưu trữ, kế hoạch điều chỉnh nêu rõ mục tiêu phát triển các nhà máy thủy điện tích năng với quy mô 2.400-6.000 MW vào năm 2030, tăng lên 20.691-21.327 MW vào năm 2050. Ngoài ra, pin lưu trữ phân tán gần trung tâm nguồn điện gió, điện mặt trời hoặc phụ tải lớn, dự kiến đạt 10.000 - 16.300 MW đến năm 2030 và 95.983 - 96.120 MW đến năm 2050.
Trong nhóm nhiệt điện, nguồn điện LNG tiếp tục đóng vai trò chủ lực trong cơ cấu nguồn linh hoạt. Đến năm 2030, tổng công suất các nguồn điện LNG đạt 22.524 MW, tương đương 9,5 - 12,3% tổng công suất hệ thống. Nhiệt điện khí trong nước duy trì 10.861 - 14.930 MW, trong khi nhiều nhà máy LNG định hướng chuyển dần sang đốt kèm hydrogen hoặc ứng dụng công nghệ thu giữ carbon (CCS).
Điện than tiếp tục giữ ở mức 31.055 MW đến năm 2030, nhưng sẽ dừng phát triển các dự án mới sau năm 2030 và chuyển đổi nhiên liệu sang sinh khối hoặc amoniac vào năm 2050, với tổng công suất 25.798 MW.
Một điểm nhấn mới trong quy hoạch điều chỉnh là định hướng phát triển năng lượng phục vụ xuất khẩu. Theo đó, đến năm 2030, công suất xuất khẩu sang Campuchia dự kiến đạt 400 MW. Giai đoạn 2035, công suất xuất khẩu điện sang Singapore, Malaysia và các đối tác khu vực ước tính từ 5.000 - 10.000 MW, duy trì đến năm 2050.
Ngược lại, nhập khẩu điện từ Lào và Trung Quốc có thể đạt từ 9.360 - 12.100 MW vào năm 2030, chiếm khoảng 4,0 - 5,1% tổng công suất điện quốc gia. Nhập khẩu từ Lào có thể đẩy sớm tiến độ nếu có điều kiện kỹ thuật và hợp tác thuận lợi.
Quy hoạch điện 8 điều chỉnh xác định đến năm 2050, tổng công suất các nhà máy điện phục vụ nhu cầu trong nước ước đạt 774.503 - 838.681 MW. Năng lượng tái tạo chiếm tỷ trọng áp đảo với điện mặt trời đạt 293.088 - 295.646 MW (chiếm khoảng 35,3% - 37,8%), điện gió ngoài khơi 113.503 - 139.079 MW (14,7 - 16,6%) và điện gió trên bờ đạt 84.696 - 91.400 MW (10,9%).
Bên cạnh đó, điện lưu trữ pin được đẩy mạnh phát triển, chiếm 11,5% - 12,4% tổng công suất hệ thống. Điện hạt nhân duy trì ở mức 10.500 - 14.000 MW, chiếm tỷ lệ 1,4 - 1,7%, đóng vai trò nguồn nền ổn định.
Ngoài ra, cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) và sản xuất năng lượng mới được định hướng chiếm khoảng 30 - 60% tổng sản lượng điện sản xuất từ năng lượng tái tạo, tùy theo nhu cầu thị trường và sự phát triển của cơ sở hạ tầng.
Quy hoạch điện 8 điều chỉnh được xây dựng với nguyên tắc: cân đối vùng miền, nâng cao tính khả thi và an toàn hệ thống, phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững, bảo đảm an ninh năng lượng và an ninh quốc phòng trong bối cảnh chuyển đổi năng lượng toàn cầu.
Bộ Công Thương sẽ tiếp tục rà soát, báo cáo Thủ tướng tình hình phát triển các loại hình nguồn điện và kịp thời đề xuất điều chỉnh quy hoạch để phù hợp với thực tế, đảm bảo linh hoạt và ổn định nguồn cung năng lượng trong dài hạn.
Sau thời gian triển khai liên tục trong điều kiện thời tiết không thuận lợi, chiến dịch bảo dưỡng tổng thể (BDTT) Nhà máy Đạm Cà Mau năm 2026 đã hoàn thành an toàn, bảo đảm chất lượng và tiến độ đề ra. Nhà máy chính thức trở lại vận hành và bắt đầu có sản phẩm trở lại từ 2:00 ngày 7/10/2026.
Theo tính toán của SNMO, sản lượng điện toàn quốc quý 4/2026 dự kiến đạt 88,97 tỷ kWh, tăng 11,3% so với cùng kỳ. Để bảo đảm nguồn cung, EVN tập trung đưa hai tổ máy Nhiệt điện Quảng Trạch I vào vận hành thương mại, đồng thời đẩy nhanh tiến độ các công trình nguồn và lưới điện trọng điểm…
Trong bối cảnh Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) và các yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế, cà phê Tây Bắc không chỉ cần chứng minh sản phẩm được trồng ở đâu mà còn phải trả lời được câu hỏi sản xuất như thế nào, có phù hợp với điều kiện tự nhiên hay không và tạo ra giá trị gì...
Dù vào mùa nước đổ hay mùa lúa chín, cảnh quan ruộng bậc thang đều có những sắc thái riêng, gắn với nghề truyền thống, ẩm thực và đời sống cộng đồng. Đây cũng là cơ sở để xây dựng các sản phẩm theo mùa thay vì chỉ khai thác một thời điểm cố định trong năm...
Theo Báo cáo Cập nhật Kinh tế khu vực Đông Á và Thái Bình Dương (EAP) công bố ngày 6/10 của Ngân hàng Thế giới (World Bank-WB), kinh tế khu vực này dự kiến tăng trưởng 4,5% trong năm 2026. Trong đó, Việt Nam nổi lên như một điểm sáng khi được WB nâng dự báo tăng trưởng lên mức 7,4%, tăng 1,1 điểm phần trăm so với dự báo trước đó…
Việt Nam đã vươn lên thành một trong những “cường quốc xuất khẩu” trên thế giới. Tuy nhiên, đằng sau kim ngạch hàng trăm tỷ USD và những dòng hàng hóa đã đi khắp các thị trường, thương hiệu Việt vẫn đang đối mặt với bài toán định vị và nâng cao giá trị trên bản đồ toàn cầu.
Tăng trưởng nhanh sẽ kéo theo những thay đổi lớn. Nếu người dân không được lắng nghe, doanh nghiệp thiếu niềm tin và các nhóm chịu tác động không được hỗ trợ thích đáng, chi phí xã hội của quá trình cải cách sẽ tăng lên.