
Mặc dù "sinh sau đẻ muộn" so với nhiều công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin viễn thông tại Việt Nam, nhưng Công ty Cổ phần Công nghệ Viễn thông Sài Gòn (SaigonTel) - thành viên của Tập đoàn Đầu tư Sài Gòn vẫn gặt hái được không ít thành công nhờ những lựa chọn khác biệt.
SaigonTel thành lập vào năm 2002, khi đó, tại thị trường Việt Nam đã hình thành nhiều tên tuổi lớn đang hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông. Và SaigonTel đã lựa chọn cách đi của riêng mình, không đầu tư phát triển vào các mảng thị phần, lĩnh vực đã trở thành thế mạnh của các “đối thủ”.
Ông Hoàng Sĩ Hóa, Tổng giám đốc SaigonTel nhớ lại, trước cái "thế" của các doanh nghiệp trên, công ty đã xác định, bước đầu chỉ tập trung đẩy mạnh đầu tư, kinh doanh cơ sở hạ tầng vào các khu tập trung công nghệ thông tin, khu công nghệ cao, đồng thời cung cấp cho các khu công nghiệp này những giải pháp tổng thể về công nghệ của nhiều tập đoàn lớn trên thế giới như IBM, HP, Microsoft, Cisco, Oracle... Vì thế, SaigonTel nhanh chóng trở thành thương hiệu về cung cấp các giải pháp tổng hợp về công nghệ thông tin tại các khu công nghiệp ở Việt Nam.
Một trong những dấu mốc quan trọng với SaigonTel là năm 2005, công ty được cấp phép cung cấp dịch vụ viễn thông ISP (dịch vụ truy nhập Internet) và năm 2007 được cấp phép dịch vụ OSP (ứng dụng Internet trong viễn thông). Với giấy phép này, mở ra cho SaigonTel một cơ hội kinh doanh mới: Viễn thông và Internet. Hàng loạt các dự án cung cấp dịch vụ Internet không dây tốc độ cao (công nghệ Pre-Wimax - công nghệ truyền dẫn tiên tiến không dây tốc độ cao, hay gọi là công nghệ băng rộng không dây) tại rất nhiều khu công nghiệp trong cả nước đã được SaigonTel triển khai, điển hình như khu công nghiệp Quế Võ (Bắc Ninh), khu công nghiệp Quang Châu (Bắc Giang) và nhiều khu vực khác.
Mặt khác, để "đón" trước thời cơ, công ty cũng đang đầu tư nghiên cứu ứng dụng công nghệ Wimax, một bước công nghệ cao hơn Pre-Wimax cho phép truy cập băng rộng di động trong phạm vi toàn thành phố, thậm chí trên toàn quốc với tốc độ rất cao và được thế giới nhận định đây là công nghệ cho tương lai. Bởi, với công nghệ này, người dùng có thể ứng dụng dịch vụ triplepay "3 trong 1" gồm truyền nhận dữ liệu, đàm thoại trực tuyến và giải trí.
Mới đây, ngay khi Luật Viễn thông mới ban hành, mở cửa cho doanh nghiệp ngoài quốc doanh đuợc đầu tư và khai thác hạ tầng viễn thông, SaigonTel đã nhanh chóng nắm bắt cơ hội này xem xét, nghiên cứu M&A một doanh nghiệp viễn thông để đẩy nhanh tốc độ phát triển trong lĩnh vực mới, tập trung đầu tư và phát triển kinh doanh trong lĩnh vực viễn thông.
Khác biệt cuả SaigonTel còn ở chỗ, dù không chuyên về nhóm ngành cụ thể nhưng nhận thấy trong lĩnh vực truyền thông có những tiềm năng và cơ hội lớn, SaigonTel đã nhanh chóng thành lập và giữ 51% vốn điều lệ của Công ty Cổ phần Truyền thông VTC- SaigonTel (VSM) để khai thác một kênh truyền hình quảng bá chuyên về thông tin kinh tế, tài chính và giải trí.
Ngày 14/02/2011, kênh truyền hình VTC6 đã được phát sóng thử nghiệm với tiêu chí phát sóng chuyên sâu mảng tin Văn hóa - nghệ thuật; Kinh tế và hội nhập. Hiện nay, 24 chương trình đang được khai thác sản xuất để phát sóng chính thức vào đầu tháng 5/2011 với thời lượng 24 giờ mỗi ngày, phủ sóng trên toàn quốc.
Sự khác biệt trên của SaigonTel chưa thể đo đểm được hết hiệu quả ở ngay thời điểm hiện tại - vì đó là sự chuẩn bị cho tương lai. Tuy nhiên, với những dịch vụ và nền tảng phát triển theo những hướng đi riêng có trước đây mà công ty lựa chọn cũng đã đem lại những thành công và hiệu quả kinh tế lớn cho SaigonTel.
Những năm qua, SaigonTel liên tục tăng trưởng ở mức độ cao. Trong năm 2007, Saigontel đã đạt doanh thu tăng gấp 13 lần và lợi nhuận tăng gấp 8 lần so với năm 2006 (doanh thu và lợi nhuận năm 2006 cũng tăng gấp 3 và 17 lần so với năm 2005); năm 2009, SaigonTel đạt mức tăng trưởng đầy ấn tượng, với tổng tài sản đạt hơn 2.000 tỉ đồng (đạt 165,6%); tổng doanh thu đạt hơn 382 tỉ đồng; lợi nhuận sau thuế đạt gần 81 tỉ đồng (đạt 119% kế hoạch và bằng 110,3% so với năm 2008); và năm 2010, doanh thu của SaigonTel ước đạt khoảng 395,2 tỉ đồng và lợi nhuận sau thuế đạt 32,5 tỉ đồng.
Trong 10 tháng năm 2026, sản lượng điện toàn hệ thống đạt 297,4 tỷ kWh, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm 2025. Đáng chú ý, nhiệt điện than tiếp tục giữ vai trò chủ lực khi chiếm tới 49,7% tổng sản lượng huy động...
Sự cải thiện đồng bộ từ hiệu quả kinh doanh cốt lõi đến năng lực quản trị tài chính, đã giúp Vinatex không chỉ duy trì đà tăng trưởng mạnh mẽ, mà còn chính thức cán đích kế hoạch lợi nhuận cả năm trước thời hạn một quý...
Mở rộng ra thị trường toàn cầu đòi hỏi doanh nghiệp Việt không chỉ có sản phẩm tốt mà còn phải nâng cao năng lực quản trị, nhân lực và khả năng thích ứng. Đồng thời, cần chuyển hóa lợi thế sẵn có thành năng lực thực chất, tăng cường vị thế doanh nghiệp nội địa trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Sức ép cộng hưởng từ biến động tỷ giá, lãi suất và giá năng lượng đang đặt các doanh nghiệp trước những thách thức lớn. Để vượt qua và tạo đà cho năm 2027, sự chủ động quản trị rủi ro từ nội lực doanh nghiệp, kết hợp cùng các giải pháp khai thông thể chế từ Chính phủ và sự đồng hành của hệ thống tài chính là chìa khóa then chốt giúp nền kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng bền vững...
Trong 10 tháng năm 2026, TKV ghi nhận kết quả tích cực khi tiêu thụ than đạt 44,06 triệu tấn, tăng 20% so với cùng kỳ. Doanh thu toàn Tập đoàn ước đạt 156.061 tỷ đồng, bằng 90,9% kế hoạch năm và tăng 15% so với cùng kỳ...
Chuyển đổi xanh ngành lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ đòi hỏi giảm phát thải, nâng cao chất lượng hạt gạo mà còn phải bảo đảm sinh kế và phân chia lợi ích công bằng. Dự án GORICE hướng tới phát triển chuỗi giá trị lúa gạo bền vững, đồng thời trao quyền cho phụ nữ, người dân tộc thiểu số và các nhóm yếu thế tham gia, hưởng lợi bình đẳng.
Trưa ngày 4/11, tại Họp báo Chính phủ thường kỳ, việc điều chỉnh thuế TTĐB đối với xăng về 0% và giảm giá bán lẻ điện 2% tác động như thế nào tới CPI; kịch bản điều hành giá để kiểm soát CPI theo mục tiêu hai tháng cuối năm... được Lãnh đạo Bộ Tài chính làm rõ.