Sản xuất công nghiệp 7 tháng năm 2025: “Bức tranh nhiều gam sáng”
Mạnh Đức
10/08/2025, 19:27
Tiếp nối xu hướng tích cực của 6 tháng đầu năm, sản xuất công nghiệp trong tháng 7/2025 vẫn duy trì đà tăng trưởng ổn định; trong đó, ngành chế biến, chế tạo tiếp tục khẳng định vai trò là động lực dẫn dắt tăng trưởng của toàn ngành công nghiệp. Đáng chú ý, sau sáp nhập, cả 34 địa phương đều có chỉ số sản xuất tăng…
Sản xuất công nghiệp 7 tháng năm 2025 tiếp tục khởi sắc, chế biến chế tạo dẫn dắt tăng trưởng chung của toàn ngành
Theo số liệu mới nhất được Cục Thống kê (Bộ
Tài chính) công bố, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 7/2025 ước tăng
0,5% so với tháng trước và tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7
tháng năm 2025, IIP ước tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2024
tăng 8,5%).
CHẾ
BIẾN, CHẾ TẠO TIẾP TỤC LÀ ĐỘNG LỰC CHÍNH
Báo cáo của Cục Thống kê cho thấy sự tăng
trưởng của ngành công nghiệp 7 tháng năm 2025 chủ yếu được dẫn dắt bởi bốn nhóm
ngành chính; trong đó, ngành chế biến, chế tạo là điểm sáng nổi bật nhất khi
tăng trưởng tới 10,3%, cao hơn mức tăng 9,6% của cùng kỳ năm 2024. Với quy mô lớn,
ngành này đã đóng góp tới 8,5 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung, trở
thành trụ đỡ chính cho toàn ngành công nghiệp.
Sự tăng trưởng của ngành công nghiệp trong
7 tháng năm 2025 còn được thể hiện rõ nét qua chỉ số sản xuất của các ngành trọng
điểm cấp II. Trong đó, nhiều ngành ghi nhận mức tăng trưởng hai con số, phản
ánh nhu cầu thị trường và năng lực sản xuất đang được cải thiện.
Bên cạnh đó, ngành cung cấp nước và xử lý
rác thải, nước thải cũng ghi nhận mức tăng trưởng mạnh mẽ tới 10,4% (cùng kỳ
năm 2024 tăng 7,1%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm. Ngành sản xuất và phân phối
điện tăng trưởng 4,6%, đóng góp 0,4 điểm phần trăm, tuy nhiên tốc độ tăng của
ngành này đã chậm lại đáng kể so với mức tăng 12,0% của cùng kỳ năm 2024. Ngành
khai khoáng giảm 2,7%, làm giảm 0,4 điểm phần trăm trong mức tăng chung, nhưng
mức giảm này đã được thu hẹp so với mức giảm 6,6% của cùng kỳ năm 2024.
Cụ thể, sản xuất xe có động cơ tăng 29,9%;
sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 16,9%; sản xuất da và các sản phẩm
có liên quan tăng 15,4%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng
14,8%; sản xuất trang phục tăng 14,5%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng
12,2%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng
11,0%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 10,9%; sản xuất kim loại tăng 10,1%;
sản xuất chế biến thực phẩm tăng 10,0%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính
và sản phẩm quang học tăng 7,9%.
Điểm đáng chú ý trong báo cáo của Cục Thống
kê là sau sáp nhập, chỉ số sản xuất công nghiệp 7 tháng năm 2025 so với cùng kỳ
năm trước tăng ở cả 34 địa phương. Trong đó, một số địa phương có chỉ số sản xuất
của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng cao là: Quảng Ninh tăng 32,0%; Phú
Thọ tăng 26,9%; Ninh Bình tăng 23,4%; Lai Châu tăng 20,1%; Thanh Hóa tăng
17,2%; Huế tăng 16,7%. Các địa phương có chỉ số sản xuất của ngành sản xuất và
phân phối điện tăng cao, gồm: Huế tăng 43,2%; Nghệ An tăng 27,3%; Lai Châu tăng
17,0%; Quảng Ngãi tăng 11,9%; Phú Thọ tăng 7,5%
Liên quan đến tình hình lao động đang làm
việc trong các doanh nghiệp công nghiệp, báo cáo của Cục Thống kê cũng cho thấy
những tín hiệu khả quan. Cụ thể, tại thời điểm 1/7/2025 tăng 1,0% so với cùng
thời điểm tháng trước và tăng 3,9% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó, tỷ
lệ tương ứng của doanh nghiệp Nhà nước cùng tăng 0,5% so với cùng thời điểm
tháng trước và cùng thời điểm năm trước; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
tăng 1,2% và tăng 4,6%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 0,6% và tăng 2,7%. Điều
này cho thấy niềm tin của doanh nghiệp vào triển vọng sản xuất kinh doanh đang
được củng cố.
Trong kết quả chung của toàn ngành công
nghiệp 7 tháng năm 2025, ngành chế biến, chế tạo tiếp tục khẳng định vai trò đầu
tàu trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Tính đến ngày 31/7/2025,
lĩnh vực này đã thu hút được 5,61 tỷ USD vốn đăng ký cấp mới, chiếm tới 55,9% tổng
vốn đăng ký cấp mới của cả nước.
Nếu tính cả vốn đăng ký mới và vốn đăng ký
điều chỉnh của các dự án đã được cấp phép từ những năm trước, tổng vốn FDI vào
ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 12,12 tỷ USD, chiếm 60,6% tổng vốn đăng
ký cấp mới và tăng thêm. Điều này cho thấy không chỉ các dự án mới được cấp
phép, mà các dự án hiện hữu cũng đang tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất, kinh
doanh, một tín hiệu tích cực cho thấy sự ổn định và tiềm năng tăng trưởng của
ngành.
TÍN
HIỆU TÍCH CỰC TỪ THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA
Trong kết quả chung của toàn ngành công
nghiệp 7 tháng năm 2025, ngành chế biến, chế tạo tiếp tục khẳng định vai trò đầu
tàu trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Tính đến ngày 31/7/2025,
lĩnh vực này đã thu hút được 5,61 tỷ USD vốn đăng ký cấp mới, chiếm tới 55,9% tổng
vốn đăng ký cấp mới của cả nước.
Một trong những yếu tố quan trọng đánh giá
sự tăng trưởng của ngành công nghiệp là Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI).
Trong báo cáo được công bố vào đầu tháng 8/2025, S&P Global (Nhà cung
cấp hàng đầu các chỉ số và nguồn dữ liệu xếp hạng tín dụng độc lập) cũng đã ghi
nhận PMI của Việt Nam trong tháng 7/2025 đạt 52,4 điểm, lần đầu tiên vượt ngưỡng
50 điểm sau bốn tháng.
Nền tảng cho sự cải thiện của chỉ số PMI
chính là sự tăng trưởng trở lại của số lượng đơn đặt hàng mới. Đây là lần đầu
tiên trong bốn tháng, các doanh nghiệp sản xuất ghi nhận sự gia tăng về số lượng
đơn hàng, đáng chú ý hơn, tốc độ tăng trưởng này được ghi nhận là nhanh nhất kể
từ tháng 11/2024. Sự phục hồi này chủ yếu đến từ nhu cầu trong nước, một minh
chứng cho thấy sức mua nội địa đang dần được cải thiện và trở thành bệ đỡ quan
trọng cho các nhà sản xuất trong bối cảnh thị trường xuất khẩu gặp khó khăn.
“Việc
số lượng đơn đặt hàng mới tăng đã tạo ra một hiệu ứng lan tỏa tích cực. Sự gia
tăng của các đơn hàng nội địa là một tín hiệu quan trọng, cho thấy ngành sản xuất
Việt Nam không hoàn toàn phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu. Đồng thời thể hiện
khả năng tự thích ứng của nền kinh tế”, S&P Global nhận định.
Tuy nhiên, trái ngược với sự khởi sắc của
thị trường trong nước, báo cáo của S&P Global cho biết hoạt động xuất khẩu
tiếp tục là một “gam màu xám” trong bức tranh toàn cảnh của ngành sản xuất.
Theo đó, số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới đã tiếp tục suy giảm, kéo dài chuỗi
suy giảm này lên tới chín tháng liên tiếp. Nguyên nhân chính là do tác động
tiêu cực từ chính sách thuế quan của Hoa Kỳ.
“Thuế quan của Hoa Kỳ đã và đang tạo ra một
rào cản lớn, làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam tại một trong những
thị trường xuất khẩu quan trọng nhất. Các doanh nghiệp tham gia khảo sát đã bày
tỏ lo ngại về vấn đề này, và cho rằng thuế quan đã ảnh hưởng trực tiếp đến khả
năng tìm kiếm và duy trì các đơn hàng mới từ Hoa Kỳ”, S&P Global nhấn mạnh.
Theo S&P Global, tác động này không chỉ
làm giảm kim ngạch xuất khẩu trực tiếp, mà còn gây ra những hệ lụy sâu rộng
hơn: (i) làm suy giảm niềm tin của các nhà đầu tư và doanh nghiệp vào sự ổn định
và có thể dự báo của môi trường kinh doanh; (ii) buộc các doanh nghiệp phải tìm
kiếm các thị trường thay thế, một quá trình đòi hỏi thời gian, nguồn lực và
không phải lúc nào cũng có thể bù đắp được sự sụt giảm từ một thị trường lớn
như Hoa Kỳ; (iii) tạo ra một áp lực cạnh tranh gay gắt hơn trên các thị trường
khác, khi nhiều quốc gia cũng đang phải đối mặt với những rào cản tương tự.
Ông Andrew Harker, Giám đốc Kinh tế tại
S&P Global Market Intelligence, nhận định ngành sản xuất Việt Nam đang
trong quá trình phục hồi sau những gián đoạn do thông báo về thuế quan của Hoa
Kỳ gây ra trong những tháng gần đây. Mặc dù các công ty đã thành công trong việc
đảm bảo đủ đơn hàng từ các thị trường khác để bù đắp và giúp tổng số đơn hàng mới
tăng trở lại, nhưng sự suy yếu kéo dài của lĩnh vực xuất khẩu vẫn là một yếu tố
rủi ro không thể xem nhẹ. Câu chuyện thuế quan một lần nữa cho thấy sự rủi ro của
chuỗi cung ứng toàn cầu và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong bối
cảnh địa chính trị ngày càng phức tạp.
Ngành sản xuất Việt Nam đang trong giai đoạn
chuyển mình quan trọng. Sự phục hồi dựa vào sức mạnh nội tại là một tín hiệu
tích cực, cho thấy khả năng tự thích ứng của nền kinh tế. Tuy nhiên, để đảm bảo
sự phát triển bền vững, Việt Nam cần phải giải quyết các thách thức lớn từ bên
ngoài, bao gồm việc đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, tối ưu hóa chuỗi cung ứng
và các nỗ lực ngoại giao thương mại nhằm giảm thiểu tác động từ các rào cản thuế
quan. Con đường phía trước vẫn còn nhiều “chông gai”, đòi hỏi sự linh hoạt từ
doanh nghiệp và sự hỗ trợ hiệu quả từ các chính sách vĩ mô.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 32-2025 phát hành ngày 11/8/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Xóm Phẩm, xã Kha Sơn, tỉnh Thái Nguyên, được ví như “thủ phủ” chăn nuôi ngựa bạch đất Bắc. Chỉ cần đặt chân đến nơi đây, nghe tiếng vó chạm đất lốc cốc vang lên trong những buổi sớm tinh sương, người ta sẽ hiểu rằng ở vùng này, ngựa đã trở thành âm thanh của cuộc sống, thành nhịp đập của kinh tế, thành niềm kiêu hãnh trong mỗi mái nhà.
Giá trị cà phê Việt chuyển từ “lượng” sang “chất”
Trong tổng mức tăng thêm 7,59 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản năm 2025 so với năm 2024 (từ 62,5 tỷ USD lên 70,09 tỷ USD), riêng cà phê đã đóng góp hơn 3 tỷ USD - một con số đặc biệt ấn tượng. Giữa lúc chính sách thuế quan đối ứng của Hoa Kỳ làm chậm nhịp xuất khẩu nhiều mặt hàng, cà phê lại là ngoại lệ hiếm hoi khi không những ít bị tác động xấu mà còn được hưởng lợi từ chính sách này.
Việt Nam đang ở bước ngoặt để “vươn mình” sang chu kỳ phát triển mới
Trước thềm năm mới, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã có cuộc trao đổi với GS. Nguyễn Đức Khương, Chủ tịch Tổ chức Khoa học và Chuyên gia Việt Nam Toàn cầu (AVSE Global) để nhìn lại bức tranh kinh tế năm 2025 và đưa ra những khuyến nghị cho năm 2026 và những năm tới.
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản lập kỷ lục tạo đà bứt phá năm 2026
Năm 2025, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt kỷ lục hơn 70 tỷ USD, trong đó nổi bật là sự bứt phá của rau quả và cà phê. Bước sang năm 2026, với đà phục hồi mạnh mẽ, riêng kim ngạch rau quả dự báo có thể đạt 10 tỷ USD, tiếp tục khẳng định vị thế nông sản Việt trên thị trường quốc tế.
Ngành Công thương bứt phá trong kỷ nguyên mới
Bước vào năm 2026, dấu mốc mở ra kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Thứ trưởng Phan Thị Thắng khẳng định: “Ngành Công Thương không chỉ giữ vai trò là nòng cốt, trụ cột vững chắc của nền kinh tế, mà còn là nhân tố quyết định trong việc bảo đảm an ninh năng lượng và thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng, tạo xung lực bứt phá cho giai đoạn phát triển mới”.
Với phương châm Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định tư duy, tầm nhìn, những quyết sách chiến lược để chúng ta vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên mới, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 khi Đảng ta tròn 100 năm thành lập (1930 - 2030); hiện thực hoá tầm nhìn phát triển đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945 - 2045).
Tổng số đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI trong cả nước là 182. Số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị bầu cử và số lượng đại biểu Quốc hội được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử của các tỉnh, thành phố được ấn định gồm: Hà Nội có 11 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 32; Thành phố Hồ Chí Minh có 13 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 38; Hải Phòng có 7 đơn vị bầu cử, số đại biểu Quốc hội được bầu là 19...
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên VnEconomy.
Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là generative AI, phát triển mạnh mẽ, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tiên phong ứng dụng công nghê để mang đến trải nghiệm thông tin đột phá với chatbot AI Askonomy...
Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?
Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán),
có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu).
Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính: