9 tháng năm 2025 so với cùng kỳ năm trước, sản lượng thịt lợn đạt 4,038 triệu tấn, tăng 4,6%; thịt gia cầm đạt 1,926 triệu tấn, tăng 5,6%; trứng 15,71 tỷ quả,tăng 4,9%; sữa tươi 997,3 nghìn tấn, tăng 5,8%...
Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), trong quý 3/2025, sản xuất nông nghiệp chịu tác động bất lợi từ thiên tai và dịch bệnh, đặc biệt là bão, mưa lũ tại khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, cùng với dịch tả lợn châu Phi bùng phát trên diện rộng. Tuy nhiên, nhờ sự chỉ đạo kịp thời của các ngành chức năng và chính quyền địa phương trong công tác ứng phó, khắc phục hậu quả, hỗ trợ người dân ổn định sản xuất, ngành nông nghiệp cả nước vẫn duy trì ổn định, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và phục vụ xuất khẩu.
Diện tích gieo trồng lúa hè thu năm nay ước đạt 1,898 triệu ha, giảm 10,9 nghìn ha so với vụ hè thu năm 2024, chủ yếu do chuyển đổi sang cây trồng có hiệu quả kinh tế cao hơn. Tính đến ngày 20/9, cả nước đã thu hoạch được 1,824 triệu ha, chiếm 96,1% diện tích xuống giống. Năng suất lúa hè thu ước đạt 57,8 tạ/ha, giảm 0,6 tạ/ha so với năm trước; trong đó, miền Bắc chịu ảnh hưởng nặng của bão và mưa lớn, năng suất giảm 10 tạ/ha. Sản lượng lúa hè thu cả nước ước đạt gần 11 triệu tấn, giảm 180,2 nghìn tấn so với năm 2024.
Đối với vụ mùa, tính đến 20/9, cả nước gieo cấy được 1,461 triệu ha, giảm 7,2 nghìn ha so với cùng kỳ; trong đó miền Bắc đạt 979,8 nghìn ha, giảm 16,4 nghìn ha, miền Nam đạt 481,3 nghìn ha, tăng 9,2 nghìn ha. Các trà lúa sớm đã cho thu hoạch 279,5 nghìn ha, chiếm 19,1% diện tích xuống giống. Lúa thu đông tại Đồng bằng sông Cửu Long xuống giống được 604,4 nghìn ha, giảm 2,5 nghìn ha; nhìn chung phát triển tốt, sâu bệnh được kiểm soát.
Sản xuất cây hàng năm khác duy trì ổn định. Tính đến 20/9, cả nước gieo trồng được 803,2 nghìn ha ngô (bằng 99,7% cùng kỳ), 73,2 nghìn ha khoai lang (bằng 96,6%), 28,1 nghìn ha đậu tương (bằng 100,7%), 132,1 nghìn ha lạc (bằng 97,6%) và 936,4 nghìn ha rau các loại (bằng 101,1%).
Sản xuất cây lâu năm đạt kết quả tích cực nhờ mở rộng diện tích và điều kiện sinh trưởng thuận lợi. Tổng diện tích cây lâu năm đạt 3,868 triệu ha, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm 2024; trong đó nhóm cây ăn quả đạt 1,328 triệu ha, tăng 2,1%, nhóm cây công nghiệp đạt 2,201 triệu ha, tăng 0,8%. Một số cây có diện tích tăng cao gồm sầu riêng (183,9 nghìn ha, tăng 7,4%), cà phê (764,4 nghìn ha, tăng 2,3%), hồ tiêu (112,6 nghìn ha, tăng 1,4%).
Về sản lượng, trong 9 tháng năm 2025, chè búp đạt 962,8 nghìn tấn, tăng 3,3%; cao su đạt 916,9 nghìn tấn, tăng 2,0%; hồ tiêu đạt 260,1 nghìn tấn, tăng 5,1%; sầu riêng đạt 1,167 triệu tấn, tăng 17,5%; xoài đạt 966,5 nghìn tấn, tăng 8,4%; nhãn đạt 556,3 nghìn tấn, tăng 13,5%; vải đạt 392,4 nghìn tấn, tăng 59% so với cùng kỳ năm trước.
Trong quý 3, chăn nuôi trâu, bò tiếp tục xu hướng giảm do diện tích chăn thả thu hẹp và hiệu quả kinh tế thấp. Chăn nuôi lợn gặp nhiều khó khăn khi dịch tả lợn châu Phi tái bùng phát ở nhiều địa phương, gây thiệt hại chủ yếu tại các hộ nhỏ lẻ. Một số tỉnh có tổng đàn lợn giảm mạnh gồm Cao Bằng (giảm 36,1%), Quảng Trị (giảm 15,1%), Phú Thọ (giảm 12,6%), Đà Nẵng (giảm 10,6%).
Ngược lại, chăn nuôi gia cầm phát triển tốt, dịch bệnh được kiểm soát, nhu cầu tiêu thụ tăng. Một số địa phương có đàn gia cầm tăng cao như An Giang tăng 15,7%, Lâm Đồng tăng 11,3%, Cần Thơ tăng 7,9%.
Sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý 3 ước đạt: thịt lợn 1,339 triệu tấn (tăng 2%), thịt gia cầm 647 nghìn tấn (tăng 6,6%), thịt bò 123,6 nghìn tấn (tăng 1,1%), thịt trâu 28,3 nghìn tấn (giảm 0,4%).
9 tháng năm 2025 so với cùng kỳ năm trước, sản lượng thịt lợn đạt 4,038 triệu tấn, tăng 4,6%; thịt gia cầm đạt 1,926 triệu tấn, tăng 5,6%; trứng 15,71 tỷ quả,tăng 4,9%; sữa tươi 997,3 nghìn tấn, tăng 5,8%...
Đến cuối tháng 9/2025, cả nước không còn dịch tai xanh và lở mồm long móng; dịch cúm gia cầm còn tại Nghệ An, Quảng Ngãi; dịch viêm da nổi cục tại Lạng Sơn. Tuy nhiên, dịch tả lợn châu Phi vẫn còn ở 31/34 địa phương chưa qua 21 ngày.
Đối với ngành lâm nghiệp, trong quý 3 của năm 2025, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 71,2 nghìn ha, tăng 0,8% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác đạt 6,703 triệu m³, tăng 6,9%. Tính chung 9 tháng năm 2025, cả nước trồng mới 221,8 nghìn ha rừng, tăng 11%; khai thác 17,963 triệu m3 gỗ, tăng 8,7%. Diện tích rừng bị thiệt hại chín tháng qua là 998,3 ha, giảm 31% so với cùng kỳ, trong đó diện tích bị cháy giảm tới 57,5%.
Sản lượng thủy sản quý 3 của năm 2025 ước đạt 2,710,9 nghìn tấn, tăng 3,3% so với cùng kỳ; trong đó, sản lượng nuôi trồng đạt 1,705,1 nghìn tấn (tăng 5,5%), sản lượng khai thác đạt 1,005,8 nghìn tấn (giảm 0,3%).
Tính chung 9 tháng năm 2025, tổng sản lượng thủy sản đạt 7,261,8 nghìn tấn, tăng 3,2%, bao gồm cá 5,111,9 nghìn tấn (tăng 2,8%), tôm 1,104,3 nghìn tấn (tăng 5,7%). Riêng cá tra và tôm công nghiệp tăng trưởng ổn định nhờ ứng dụng công nghệ cao, bảo đảm lợi nhuận cho người nuôi. Sản lượng cá tra chín tháng đạt 1,341 triệu tấn (tăng 4,6%); tôm thẻ chân trắng đạt 719,7 nghìn tấn (tăng 7,1%), tôm sú đạt 212,3 nghìn tấn, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước.
Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.