Chính phủ ban hành Nghị định số
374/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất
nghiệp, có hiệu lực từ
ngày 1/1/2026. Trong đó, quy định rõ mức đóng và mức hưởng bảo hiểm thất
nghiệp.
Nghị định quy định mức hưởng trợ
cấp thất nghiệp hằng tháng của người lao động được xác định như sau: Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng
tháng = Mức lương bình quân của 6 tháng liền kề có đóng bảo hiểm thất nghiệp
trước khi thất nghiệp x 60%.
Trường hợp những tháng cuối cùng
trước khi thất nghiệp, người lao động có thời gian gián đoạn đóng bảo hiểm thất
nghiệp, thì 6 tháng liền
kề để tính mức hưởng trợ cấp thất nghiệp là bình quân tiền lương của 6 tháng
đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động,
hợp đồng làm việc, hoặc
chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật.
Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng
tháng của người lao động tối đa không quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng đã
đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Bộ luật Lao động tại thời điểm chấm
dứt hợp đồng lao động.
Theo Nghị định 293/2025/NĐ-CP, mức lương tối
thiểu tháng tại 4 vùng tăng từ ngày 1/1/2026, lần lượt tại vùng 1 với 5.310.000 đồng/tháng;
vùng 2 với 4.730.000 đồng/tháng; vùng 3 với 4.140.000 đồng/tháng;
vùng 4 với 3.700.000 đồng/tháng. Với việc tăng lương tối thiểu vùng
này, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa cũng sẽ tăng theo.
Tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp
được tính theo tháng dương lịch. Mỗi tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính
từ ngày người lao động bắt đầu hưởng trợ cấp thất nghiệp đến ngày đó của tháng
sau trừ 1 ngày. Trường
hợp tháng sau không có ngày tương ứng, thì ngày kết thúc của tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp là ngày
cuối cùng của tháng đó.
Cơ quan Bảo hiểm xã hội thực hiện chi trả trợ cấp
thất nghiệp cho người lao động trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày người lao động hết thời hạn
nhận quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp, hoặc hết thời hạn thông báo về việc
tìm kiếm việc làm hằng ngày.
Nghị định 374 cũng quy định người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp bằng
1% tiền lương tháng. Người sử dụng
lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương tháng của những người lao động đang tham
gia bảo hiểm thất nghiệp.
Người sử dụng lao động là cơ
quan, đơn vị, tổ chức được ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động
thường xuyên, thì ngân
sách nhà nước bảo đảm toàn bộ nguồn đóng bảo hiểm thất nghiệp, và được bố trí trong dự toán chi thường
xuyên hàng năm của cơ quan, đơn vị, tổ chức theo quy định của pháp luật về phân
cấp quản lý ngân sách nhà nước.
Người sử dụng lao động là cơ
quan, đơn vị, tổ chức được ngân sách nhà nước bảo đảm một phần kinh phí hoạt động
thường xuyên, thì ngân
sách nhà nước bảo đảm nguồn đóng bảo hiểm thất nghiệp cho số người hưởng lương
từ ngân sách nhà nước,
và được bố trí trong dự toán chi thường xuyên hàng năm của cơ quan, đơn vị, tổ
chức theo quy định của pháp luật về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước.
Phần bảo hiểm thất nghiệp phải
đóng còn lại, người sử dụng lao động tự bảo đảm theo quy định.
Người sử dụng lao động là doanh
nghiệp, đơn vị, tổ chức có hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ, thì khoản đóng bảo hiểm thất
nghiệp được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong kỳ.
Người sử dụng lao động là cơ
quan, đơn vị, tổ chức khác,
thì khoản đóng bảo hiểm thất nghiệp được sử dụng từ nguồn kinh phí hoạt động của
cơ quan, đơn vị, tổ chức theo quy định của pháp luật.
Nhà nước hỗ trợ tối đa 1% quỹ tiền
lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động đang tham gia bảo
hiểm thất nghiệp, và do ngân sách trung ương bảo đảm.
Ngân sách nhà nước hỗ trợ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp theo
nguyên tắc bảo đảm duy trì số dư quỹ hằng năm bằng 2 lần tổng các khoản chi các
chế độ bảo hiểm thất nghiệp, chi
tổ chức và hoạt động bảo hiểm thất nghiệp của năm trước liền kề. Mức hỗ trợ tối đa bằng
1% quỹ tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động đang
tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
Đáng chú ý, Nghị định đã nêu rõ, người
sử dụng lao động khi tuyển dụng mới và sử dụng lao động là người khuyết tật thì
được giảm mức đóng bảo hiểm thất nghiệp từ 1% xuống 0%.
Tiền đóng bảo hiểm thất nghiệp thuộc
trách nhiệm của người sử dụng lao động phải đóng cho người lao động là người
khuyết tật trong thời gian người lao động làm việc. Thời gian hỗ trợ không quá 12 tháng đầu
kể từ khi tuyển mới người lao động khuyết tật.
Người sử dụng lao động đăng ký
tham gia bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động là người khuyết tật với cơ
quan Bảo hiểm xã hội để được thực hiện giảm đóng theo quy định trên, và kèm theo
bản sao giấy xác nhận khuyết tật của từng người lao động.