
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau mới đây đã có văn bản gửi Sở Tài nguyên và Môi trường yêu cầu tiếp tục tập trung tháo gỡ các vướng mắc, khó khăn về nguồn cung cấp vật liệu cho các dự án trọng điểm trên địa bàn, đặc biệt là dự án mở rộng và nâng cấp sân bay Cà Mau.
Lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau cũng yêu cầu các sở, ngành và Ủy ban nhân dân thành phố Cà Mau khẩn trương chuẩn bị dự án, bảo đảm các điều kiện theo trình tự thủ tục, gồm quy trình, hồ sơ, thủ tục thực hiện việc giải phóng mặt bằng; các công việc liên quan thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của địa phương ngay sau khi dự án được cấp có thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư.
Hiện dự án đã được trình Chính phủ và chờ phê duyệt chủ trương đầu tư. Sở Kế hoạch và Đầu tư Cà Mau cho biết, theo kế hoạch đến ngày 31/12 năm nay dự án mở rộng, nâng cấp sân bay Cà Mau sẽ được bàn giao toàn bộ mặt bằng cho chủ đầu tư. Nếu dự án triển khai đúng tiến độ thì dự kiến đến tháng 8/2025 sẽ hoàn thành. Đến nay, các cơ quan chức năng và thành phố Cà Mau đang rà soát, thống kê, kiểm đếm, đo đạc và lên phương án hỗ trợ, tái định cư, bồi thường, giải phóng mặt bằng; đồng thời tiến hành giải quyết, xử lý các tồn đọng phát sinh trong quá trình triển khai.
Tháng 5/2024 vừa qua, Ủy ban nhân dân tỉnh Cà mau đã có văn bản gửi Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang đề nghị hỗ trợ cung ứng nguồn vật liệu cát san lấp để thi công dự án nâng cấp, mở rộng sân bay Cà Mau. Trong văn bản này, Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau đề nghị tỉnh An Giang ưu tiên hỗ trợ cung ứng nguồn cát san lấp với khối lượng khoảng 1,5 triệu m3 và chừng 300.000 m3 cát hạt trung nhằm kịp triển khai các công trình trọng điểm của tỉnh này, trong đó có dự án nâng cấp, mở rộng sân bay Cà Mau.
Riêng đối với dự án trọng điểm nâng cấp và mở rộng sân bay Cà Mau, lãnh đạo tỉnh Cà Mau cho biết để có thể triển khai thi công thì cần khoảng 1,5 triệu m3 cát san lấp, đắp nền và khoảng 300.000 m3 cát hạt trung cho các hạng mục khác. Thời gian sử dụng tập trung nguồn vật liệu này là vào đầu năm 2025.
Cũng theo Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau, trong thời gian qua, nguồn cung cấp cát, đá các loại đã ảnh hưởng lớn đến chi phí đầu tư, tiến độ thi công các dự án xây dựng trên địa bàn tỉnh Cà Mau. Qua rà soát, các dự án trọng điểm trong kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 – 2025 của tỉnh tiếp tục cần khoảng 1.000.000 m3 cát đắp nền; 250.000 m3 cát vàng; 330.000 m3 đá một hai (1x2); và trên 510.000 m3 đá dăm (đá 4x6).
Sân bay Cà Mau hiện là sân bay cấp 3C, nhà ga hành khách 2 cao trình, công suất khai thác thực tế 35.000 – 40.000 hành khách/năm (công suất tối đa 200.000 hành khách/năm), lượng khách giờ cao điểm là 150 hành khách/giờ. Phi cơ đang khai thác là dòng cỡ nhỏ cánh quạt ATR-72, sức chở 90 hành khách.
Theo Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng hàng không, sân bay toàn quốc tại Quyết định số 648/QĐ-TTg ngày 07/6/2023 của Thủ tướng Chính phủ, đến năm 2030, sân bay Cà Mau đạt công suất 1 triệu hành khách/năm. Quy hoạch tổng thể cảng hàng không Cà Mau giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhyìn đến năm 2050, sân bay Cà Mau có thể bảo đảm tiếp nhận các dòng máy bay tầm trung Airbus A321, A320, A319, Embraer 195... Để bảo đảm nâng công suất lên theo quy hoạch, sân đậu sẽ có tối thiểu 4 vị trí đậu máy bay cho các loại máy bay A320, A321 và tương đương. Tầm nhìn đến năm 2050, sân bay Cà Mau sẽ đáp ứng công suất 3 triệu hành khách/năm và tối thiểu 3.000 tấn hàng hóa/năm, sân đậu máy bay có tối thiểu 10 vị trí đậu máy bay Code C.
Theo quy hoạch, giai đoạn tới 2030, sân bay Cà Mau sẽ xây dựng đường lăn nối kết nối đường cất hạ cánh và sân mới phía nam, chiều rộng 15 m, lề vật liệu mỗi bên rộng 5 m; xây dựng sân quay đầu ở 2 đầu đường cất hạ cánh kích thước 2x100 m x 23 m, lề vật liệu rộng 5 m. Đồng thời, xây dựng hệ thống các đường lăn chờ nối chiều rộng 15 m, lề vật liệu mỗi bên rộng 5 m. Tổng mức đầu tư dự kiến là 2.253 tỷ đồng, không bao gồm chi phí giải phóng mặt bằng.
Quyết định số 791/QĐ – BGTVT phê duyệt Quy hoạch Cảng hàng không Cà Mau thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 nêu rõ, cảng hàng không Cà Mau có vị trí, chức năng trong mạng cảng hàng không, sân bay toàn quốc là cảng hàng không quốc nội; tính chất sử dụng là sân bay dùng chung dân dụng và quân sự. Cụ thể, trong thời kỳ 2021-2030, sân bay Cà Mau có cấp sân bay 4C (theo mã tiêu chuẩn của Tổ chức Hàng không dân dụng Quốc tế - ICAO) và sân bay quân sự cấp II. Phương thức tiếp cận hạ cánh là CAT I đầu 27 và giản đơn đầu 09.
Tầm nhìn đến năm 2050, sân bay Cà Mau giữ nguyên cấp sân bay 4C và sân bay quân sự cấp II, nhưng công suất đã được nâng lên khoảng 3 triệu hành khách/năm và 3.000 tấn hàng hóa/năm; loại tàu bay khai thác là Code C như A320/A321 và tương đương; phương thức tiếp cận hạ cánh là CAT I đầu 27 và giản đơn đầu 09.
Quyết định 791 cũng giao Cục Hàng không Việt Nam có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau và các cơ quan liên quan tổ chức công bố, quản lý và thực hiện quy hoạch.
Dù Việt Nam tiệm cận mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân với khoảng 95% dân số tham gia, người bệnh vẫn phải gánh vác tới gần 40% chi phí y tế từ “tiền túi”, gấp 4 lần so với mức khuyến nghị của WHO. Vì vậy, giải pháp đột phá cho giai đoạn tiếp theo không nằm ở việc tiếp tục mở rộng độ bao phủ dân số, mà là nâng cao mức độ bảo vệ tài chính thực chất thông qua ứng dụng kinh tế dược học và đánh giá công nghệ y tế...
UBND tỉnh Quảng Ninh chỉ đạo rà soát từng dự án, từng vướng mắc để xử lý dứt điểm, nhất là công tác giải phóng mặt bằng các dự án điện…
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Theo HSBC, kết quả tăng trưởng GDP 8,18% trong 6 tháng đầu năm phản ánh nền kinh tế Việt Nam đang có thêm nhiều động lực tăng trưởng, trong đó FDI tiếp tục là "lá phiếu tín nhiệm" của nhà đầu tư quốc tế. Dù vậy, áp lực lạm phát, tỷ giá và lãi suất vẫn là những biến số đáng lưu ý trong những tháng cuối năm...
Trong các thương vụ huy động vốn, IPO hay mở rộng chuỗi cung ứng quốc tế, thông tin phát triển bền vững đang dần trở thành một phần của đối thoại tài chính. Với sự ra đời của IFRS S1 và IFRS S2, doanh nghiệp không chỉ được yêu cầu công bố nhiều thông tin hơn, mà còn phải chứng minh các rủi ro và cơ hội về phát triển bền vững có thể tác động như thế nào đến triển vọng kinh doanh và khả năng tiếp cận vốn…
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.